Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi)

Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế (Điều 6), có ý kiến đề nghị xem xét bổ sung 01 nhóm hành vi bị nghiêm cấm sau: “Cố tình xác lập các giao dịch không phù hợp thực tế kinh doanh, xác định giá giao dịch không phù hợp giá trị giao dịch thông thường trên thị trường nhằm mục đích gian lận thuế”. Có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi vi phạm thủ tục về thuế sau vào những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế.

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 và chuẩn bị cho kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội khóa XIV, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi); kết quả tổng hợp các ý kiến đóng góp cho thấy, về cơ cấu của Luật, có ý kiến đề nghị nên bổ sung thêm vào Dự án Luật một chương quy định về tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế. Chương này sẽ quy định những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế; quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế; quy định các thủ tục và thời hạn hỗ trợ người nộp thuế.

Về giải thích từ ngữ (Điều 3), có ý kiến cho rằng nên xem xét lại khái niệm rủi ro về thuế tại Khoản 15, đây là khái niệm rủi ro tuân thủ thuế chứ không phải rủi ro về thuế.

Về nội dung quản lý thuế (Điều 4), có ý kiến cho rằng nên bỏ Khoản 10: Hợp tác quốc tế về thuế. Hợp tác quốc tế về thuế chỉ hỗ trợ cho các nghiệp vụ quản lý thuế tốt hơn, bản thân nó không phải là một nghiệp vụ của cơ quan thuế.

Về nguyên tắc quản lý thuế (Điều 5), có ý kiến đề nghị bỏ Khoản 4, 5 vì thực hiện cải cách ứng dụng công nghệ thông tin hay quản lý rủi ro chỉ là biện pháp, phương thức quản lý, không phải là nguyên tắc quản lý. Ý kiến khác cho rằng nên căn cứ vào Điều 8 Nguyên tắc Quản lý NSNN trong Luật NSNN số 83/2015 để xây dựng nguyên tắc quản lý thuế (Căn cứ vào 3 mục đầu tiên liên quan đến quản lý thu NS).

Theo đó, Điều 5 viết lại như sau: “1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Mọi tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. Thuế được quản lý theo nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.

2. Toàn bộ các khoản thu thuế phải được dự toán và nộp đúng, nộp đủ, đúng hạn vào NSNN.

3. Các khoản thu thuế thực hiện theo quy định của các luật thuế và chế độ thu theo quy định của pháp luật”.

Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế (Điều 6), có ý kiến đề nghị xem xét bổ sung 01 nhóm hành vi bị nghiêm cấm sau: “Cố tình xác lập các giao dịch không phù hợp thực tế kinh doanh, xác định giá giao dịch không phù hợp giá trị giao dịch thông thường trên thị trường nhằm mục đích gian lận thuế”. Có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi vi phạm thủ tục về thuế sau vào những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế.

Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Ngân hàng thương mại trong quản lý thuế (Điều 27), có ý kiến đề nghị bổ sung thêm nghĩa vụ “Cung cấp thông tin về giao dịch thanh toán của người nộp thuế liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra thuế theo quy định pháp luật” để đảm bảo điều kiện cho cơ quan thuế đấu tranh chống gian lận thuế, đặc biệt là gian lận trong lĩnh vực kinh doanh thương mại điện tử.

Về cung cấp dịch vụ đại lý thuế (Điều 104), quy định tại Điểm c, Khoản 1, có ý kiến đề nghị bỏ vì nếu quy định như dự thảo sẽ xung đột với các quy định khác của Luật Kế toán. Cũng có ý kiến lại cho rằng nên giữ như trong Dự án Luật, tức là Đại lý thuế có quyền và chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp siêu nhỏ trong kinh doanh. Đại lý thuế được cung cấp dịch vụ kế toán sẽ hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ tốt hơn, tiết kiệm chi phí, thực hiện mục tiêu hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi.

Về hành vi trốn thuế (Điều 144), có ý kiến cho rằng hành vi trốn thuế cần quy định cụ thể hơn để có thể làm cơ sở thu thuế của các doanh nghiệp liên kết, các hoạt động thương mại điện tử. Nếu người nộp thuế chỉ cần chứng minh mình không nằm trong 10 nhóm quy định của hành vi trốn thuế thì cơ quan thuế khó có căn cứ xử lý họ.

Có ý kiến đề nghị xem xét bổ sung 02 quy định liên quan đến kê khai và nộp thuế sau: (1) Quy định nguyên tắc đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ khai thuế, mẫu biểu hồ sơ khai thuế đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ trên cơ sở thống nhất với các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp cũng như chế độ kế toán đối với nhóm doanh nghiệp này. (2) Quy định nguyên tắc cho phép người nộp thuế là cá nhân được kê khai, nộp thuế theo phương thức điện tử mà không cần chữ ký số (chỉ cần thực hiện việc xác thực nhân thân)...

Toàn văn tổng hợp mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 950

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.