Trao đổi một số quy định và kinh nghiệm về việc tổ chức đoàn giám sát của HĐND, Thường trực HĐND và Ban HĐND

Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng nhất của HĐND. Đoàn giám sát được tổ chức để nắm bắt thực trạng tình hình thi hành pháp luật ở địa phương, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân, bảo đảm để hiến pháp và pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất ở địa phương...

   Lê Thành Tâm 

          Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng nhất của HĐND. Tổ chức đoàn giám sát được coi là một trong những phương thức giám sát cơ bản của hội đồng nhân dân. Đoàn giám sát được tổ chức để nắm bắt thực trạng tình hình thi hành pháp luật ở địa phương, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân, bảo đảm để hiến pháp và pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất ở địa phương.

         Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân có quyền tổ chức đoàn giám sát. Thông qua tổ chức đoàn giám sát, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân hỗ trợ cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật, đưa ra những kiến nghị cần thiết nhằm đảm bảo sự đúng đắn trong hoạt động của các đối tượng chịu giám sát hoặc làm cơ sở cho những quyết định của Hội đồng nhân dân. Trong nhiệm kỳ 2004-2011 và từ đầu nhiệm kỳ 2011-2016 đến nay, trung bình mỗi năm Thường trực HĐND Thành phố Hà Nội thực hiện 4 cuộc giám sát lớn, giám sát sâu; mỗi Ban HĐND Thành phố cũng thực hiện được từ 3 đến 5 cuộc giám sát theo chuyên đề. Hoạt động giám sát của Thường trực, các ban và đại biểu HĐND thành phố Hà Nội đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, đáp ứng các yêu cầu, kiến nghị chính đáng của công dân, của cử tri. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND, căn cứ các quy định của pháp luật và từ thực tế hoạt động giám sát theo phương thức Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, xin trao đổi một số kinh nghiệm về tổ chức đoàn giám sát như sau:  

1. Tổ chức Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân. 

Hội đồng nhân dân tổ chức Đoàn giám sát để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực giám sát đã được pháp luật quy định. Việc tổ chức Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành theo các bước sau đây: 

- Thành lập đoàn giám sát. 

Căn cứ vào chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân hoặc khi xét thấy cần thiết, Thường trực Hội đồng nhân dân tự mình hoặc theo đề nghị của Ban của Hội đồng nhân dân hoặc của đại biểu Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân quyết định thành lập Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân

Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát xác định rõ thành phần Đoàn giám sát, Trưởng đoàn giám sát, nội dung giám sát, thời gian tiến hành giám sát, cơ  quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. 

- Tiến hành hoạt động giám sát. 

Chậm nhất là bảy ngày trước ngày bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát, Đoàn giám sát phải thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát về nội dung, kế hoạch, thành phần và thời hạn giám sát. Đoàn giám sát mời đại diện ban Thường trực Ủy ban Mặt trân Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, các chuyên gia về lĩnh vực được giám sát tham gia Đoàn giám sát khi thấy cần thiết.

Đoàn giám sát phải thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật; không được làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

Đoàn giám sát tiến hành giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm;

+ Xem xét, xác minh tại chỗ những vấn đề mà Đoàn thấy cần thiết;

+ Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm. Đoàn giám sát chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình. 

- Báo cáo kết quả giám sát. 

Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc giám sát đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xem xét báo cáo này. Trong trường hợp cần thiết, Thường trực Hội đồng nhân dân đề nghị hội đồng nhân dân xem xét, cho ý kiến về báo cáo kết quả giám sát của đoàn giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân dân gần nhất.

Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm theo dõi kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. 

 2. Tổ chức Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân 

- Thành lập Đoàn giám sát. 

Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định thành lập Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân căn cứ vào chương trình giám sát của mình hoặc theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân, đề nghị của các Ban của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân.

Quyết định của Thường trực Hội đồng nhân dân về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. 

- Tiến hành hoạt động giám sát. 

Chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu tiến hành giám sát, Đoàn giám sát phải thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát về nội dung, kế hoạch giám sát. Đoàn giám sát phải thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát được xác định trong quyết định thành lập Đoàn giám sát.

Đoàn giám sát tiến hành giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm;

+ Xem xét, xác minh những vấn đề mà đoàn giám sát thấy cần thiết;

+ Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của người có hành vi vi phạm pháp luật. Đoàn giám sát  phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình. 

- Báo cáo kết quả giám sát. 

Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc giám sát, đoàn giám sát phải gửi báo cáo kết quả giám sát đến Thường trực Hội đồng nhân dân.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giám sát cua đoàn giám sát, Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xem xét. Trình tự Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của Kết luận của Thường trực Hội đồng nhân dân được gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm theo dõi kết quả giải quyết kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

Trong trường hợp cần thiết, Thường trực Hội đồng nhân dân đề nghị hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của đoàn giám sát  tại kỳ họp gần nhất.  

3. Tổ chức Đoàn giám sát của Ban của Hội đồng nhân dân. 

- Thành lập Đoàn giám sát. 

Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức đoàn giám sát của ban căn cứ vào chương trình giám sát của mình hoặc qua giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua phương tiện thông tin đại chúng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc được Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân giao.

Việc thành lập Đoàn giám sát, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân, chịu sự giám sát do Ban quyết định. 

- Tiến hành hoạt động giám sát. 

Chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát, Đoàn giám sát phải thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát nội dung, kế hoạch giám sát.

Đoàn giám sát có thể mời đại diện ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia giám sát và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia giám sát. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này.

Trong quá trình giám sát, đoàn giám sát có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Khi phat hiện có hành vi vi phạm pháp luật, Đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích nhà nước, quyền va lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm. 

- Báo cáo kết quả giám sát. 

Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc giám sát, Đoàn giám sát gửi báo cáo kết quả giám sát đến Ban của Hội đồng nhân dân. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhân được báo cáo của Đoàn giám sát, Ban của Hội đồng nhân có trách nhiệm xem xét.

Báo cáo kết quả giám sát của Ban phải nêu rõ kiến nghị về các biện pháp cần thiết và phải được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Ban của Hội đồng nhân dân có trách nhiệm theo dõi kết quả giải quyết kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

                                                   -----------------------------------------

Lượt xem: 814

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.