Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội: Đánh giá cao kết quả thực hiện Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật tại thành phố Hà Nội
Đoàn khảo sát của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đánh giá việc thực hiện Luật NCT, Luật NKT đã được các cơ quan quản lý nhà nước của thành phố tích cực triển khai thực hiện. Việc thực hiện đã góp phần nâng cao nhận thức đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách, tạo được sự đồng tình ủng hộ cao trong nhân dân và NCT, NKT. Các quy định của Luật NCT, Luật NKT nhìn chung đã đi vào cuộc sống và đạt được kết quả tốt trên địa bàn thành phố như chính sách trợ cấp xã hội cho NCT, NKT; chăm sóc sức khỏe cho NCT; chúc thọ, mừng thọ NCT, dạy nghề, tạo việc làm cho NKT.
Thực hiện Chương trình hoạt động, Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã thành lập Đoàn khảo sát “Về tình hình thực hiện Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật” tại thành phố Hà Nội từ ngày 24-25/3/2015. Kết quả khảo sát cho thấy, đối với thực hiện Luật Người cao tuổi (NCT), theo số liệu thống kê năm 2014, thành phố Hà Nội có 728.343 NCT, trong đó có 626.510 NCT là hội viên Hội NCT, chiếm 86% tổng số NCT. Thành phố đã xây dựng được tổ chức Hội NCT từ thành phố đến xã, phường, thị trấn. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, các sở, ban ngành; UBND các quận, huyện, thị xã; Ủy ban MTTQ thành phố và các tổ chức thành viên, hệ thống các cấp Hội NCT đã tích cực thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công về công tác NCT. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT đã được thành phố quan tâm thực hiện; năm 2014 đã có trên 82 nghìn NCT từ đủ 80 tuổi trở lên đã được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 năm/lần (chiếm tỷ lệ 56,8% tổng số NCT từ đủ 80 tuổi trở lên), 691.866 NCT từ đủ 60 tuổi trở lên được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, 708.785 NCT từ đủ 60 tuổi trở lên được được phổ biến kiến thức về chăm sóc và tự chăm sóc sức khỏe, 492.856 (67,7%) NCT có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), trong đó có 76.781 NCT đã mua thẻ BHYT tự nguyện. Chăm sóc NCT trong hoạt động văn hóa, giảo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, giao thông công cộng được quan tâm, chú trọng. Toàn thành phố đã thành lập, phát triển 8.227 câu lạc bộ sức khỏe, văn hóa, thể thao và giải trí tại 30 quận, huyện, thị xã, thu hút 250.000 NCT tham gia; năm 2014, thành phố đã phát triển thêm mô hình câu lạc bộ dưỡng sinh (thức vũ kinh) và được các chi hội NCT tham gia hưởng ứng tích cực. Phong trào sống vui, sống khỏe của NCT ngày càng phát triển mạnh. Thành phố đã thực hiện giảm 20% giá vé, giá dịch vụ khi NCT thăm quan di tích lịch sử, văn hóa, bảo tàng, danh lam thắng cảnh, tập luyện thể dục thể thao tại các cơ sở thể dục thể thao có bán vé hoặc thu phí dịch vụ theo quy định. Giảm 50% giá vé xe buýt nội đô đơn tuyến và 45% giá vé xe buýt nội đô liên tuyến đối với NCT từ 60 tuổi trở lên, có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, diện có nhu cầu và có khả năng tự tham gia giao thông bằng phương tiện xe buýt. Việc chúc thọ, mừng thọ và tổ chức tang lễ được thực hiện theo đúng quy định, kịp thời; từ năm 2011-2014 đã có 620.239 NCT được chúc thọ, mừng thọ với tổng kinh phí gần 320 tỷ đồng. Thành phố đã có chính sách hỗ trợ khuyến khích hỏa táng giai đoạn 2010-2015. Công tác phát huy vai trò NCT đã được thành phố quan tâm thực hiện, vai trò NCT luôn được đề cao và phát huy trong gia đình và xã hội, năm 2014 có 46.106 NCT tham gia công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; 3.201 NCT đạt danh hiệu làm kinh tế giỏi các cấp; 5.651 NCT là chủ trang trại, cơ sở, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh; 8.967 NCT tham gia chương trình bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới. Đã có 568/584 (97,26%) xã, phường, thị trấn trong toàn thành phố thành lập được Quỹ Chăm sóc và phát huy vai trò NCT, với số dư là 42,879 tỷ đồng; ngoài ra Hội NCT các cơ sở đã tuyên truyền, vận động xây dựng Quỹ Phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Đối với việc thực hiện Luật Người khuyết tật (NKT), trên cơ sở ban hành các văn bản tổ chức triển khai thi hành Luật NKT, Thành phố, các sở, ban ngành, quận, huyện, thị xã đã xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện Luật NKT trên địa bàn như xác định mức độ khuyết tật; thực hiện chính sách BTXH đối với NKT nặng, đặc biệt nặng sống tại gia đình, cộng đồng, trong cơ sở BTXH... Việc xác nhận mức độ khuyết tật được thực hiện theo đúng quy định, tạo điều kiện cho NKT được thụ hưởng các chính sách thuận lợi. Hết năm 2014, thành phố đã xác nhận mức độ khuyết tật cho 70.236/93.162 NKT (75,4% tổng số NKT). Trạm y tế các xã, phường, thị trấn đã triển khai thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú cho NKT; tổ chức khám chữa bệnh định kỳ phát hiện các trường hợp dị tật bẩm sinh trong bào thai và cấp phát thuốc miễn phí theo một số chương trình. NKT tại các cơ sở BTXH được phục hồi chức năng dưới nhiều hình thức 100% NKT đang hưởng chế độ BTXH được cấp thẻ BHYT miễn phí. Từ năm 2011-2014 đã có 176.835 NKT được chăm sóc sức khỏe, 15.402 NKT được chỉnh hình phục hồi chức năng, 10.052 NKT được cấp xe lăn. Thành phố đã điều tra, khám phân loại cho hơn 4.000 trẻ em khuyết tật tại 30 quận, huyện với kinh phí 750 triệu đồng. Công tác giáo dục hòa nhập cho học sinh là NKT đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện, tạo điều kiện để NKT nói chung và trẻ em khuyết tật trong độ tuổi có nhu cầu, có khả năng học văn hóa được đến trường; thực hiện tốt chế độ miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với NKT theo quy định của Nhà nước, từ năm 2011-2014, đã có 8.780 NKT được trợ giúp học văn hóa. Các hoạt động dạy nghề cho NKT được chú trọng tổ chức thực hiện như tổ chức các phiên giao dịch việc làm, các chương trình tọa đàm, tập huấn..từ năm 2011-2014, đã có 5.262 NKT được trợ giúp học nghề, 15.109 NKT được vay vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm cho 13.498 NKT. Việc dạy nghề đã gắn với việc tạo việc làm cho NKT như mô hình dạy nghề gắn với làng nghề tại huyện Gia Lâm. Thành phố đã có 13 cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT; các cơ sở này đã được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước, thành phố theo quy định. Hệ thống các nhà văn hóa-thông tin tại các quận, huyện, thị xã đã thực hiện các hoạt động thông tin tuyên truyền CSPL về NKT, phổ biến rộng rãi các biện pháp phòng ngừa khuyết tật; hướng dẫn NKT tham gia tập luyện thể dục, thể thao phù họp với dạng tật, lứa tuổi, sức khỏe, điều kiện kinh tế và tập quán địa phương. Đã tố chức các hoạt động thiết thực, hiệu quả như tổ chức nhiều giải thi đấu thể thao cho NKT; tổ chức các chương trình giao lưu văn nghệ cho NKT huy động được nhiều NKT tham gia. Nhìn chung các hoạt động văn hóa, thể dục, thế thao, giải trí đã góp phần tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống tinh thần, giúp NKT hòa nhập cộng đồng. Thành phố đã thực hiện miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ cho NKT nặng, NKT đặc biệt nặng khi sử dụng một số dịch vụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch. Các quy định về trợ giúp BTXH đối với NKT đủ điều kiện được hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng và trung tâm BTXH được thực hiện nghiêm túc, 100% NKT đủ điều kiện hưởng trợ cấp được trợ cấp đầy đủ; thành phố đã ban hành mức chuẩn trợ cấp riêng cao hơn mức chuẩn của trung ương cho NKT. Thành phố đã đầu tư cải tạo, nâng cấp 02 Trung tâm BTXH nuôi dưỡng NKT với kinh phí 21,4 tỷ đồng để từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc các đối tượng BTXH; khuyến khích thành lập các cơ sở BTXH ngoài công lập có chức năng chăm sóc NKT. Thành phố đã thành lập Hội NKT, 27/30 quận, huyện, thị xã đã thành lập hội NKT, 70/584 xã, phường, thị ừấn đã thành lập Hội NKT. Các cán bộ, hội viên được tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động và quản lý hội. Ngoài ra, thành phố đã thành lập Trung tâm tư vấn và hỗ trợ hòa nhập NKT và Trung tâm hỗ trợ sống độc lập của NKT trực thuộc Hội NKT thành phố. Quỹ trợ giúp NKT được lồng ghép trong Quỹ quốc gia giải quyết việc làm của thành phố, trong đó NKT được hỗ trợ vay vốn từ 12 đến 36 tháng với lãi suất ưu đãi mức 0,3%/tháng. Đoàn khảo sát của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đánh giá việc thực hiện Luật NCT, Luật NKT đã được các cơ quan quản lý nhà nước của thành phố tích cực triển khai thực hiện, đồng thời có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền và cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách tại các địa phương. Việc thực hiện đã góp phần nâng cao nhận thức đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách, tạo được sự đồng tình ủng hộ cao trong nhân dân và NCT, NKT. Các quy định của Luật NCT, Luật NKT nhìn chung đã đi vào cuộc sống và đạt được kết quả tốt trên địa bàn thành phố như chính sách trợ cấp xã hội cho NCT, NKT; chăm sóc sức khỏe cho NCT; chúc thọ, mừng thọ NCT, dạy nghề, tạo việc làm cho NKT. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Luật NCT, Luật NKT tại thành phố còn có những hạn chế như: Việc triển khai các quy định của Luật tại một số địa phương còn chậm do sự tham gia của cả hệ thống chính trị còn hạn chế, các sở, ngành chưa có sự phối hợp đồng bộ, đội ngũ cán bộ ở cơ sở ở một số nơi còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ. Một số nội dung, chương trình còn thực hiện chưa toàn diện, đạt kết quả cao nhất; các cơ chế khuyến khích các tổ chức doanh nghiệp chưa đủ sức thu hút doanh nghiệp tham gia tạo việc làm cho NKT, nuôi dưỡng NCT… Ngoài những kiến nghị đối với các bộ, ngành trung ương trong triển khai, thực hiện Luật NCT, Luật NKT, Ủy ban Về các vấn đề xã hội kiến nghị đối vớ thành phố Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, phát huy vai trò của NCT, NKT; các biện pháp phòng ngừa khuyết tật; Chỉ đạo hoàn thành việc xây dựng Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò NCT tại 100% số xã, phường, thị trấn; Chỉ đạo tô chức các hoạt động chăm sóc NCT dựa vào cộng đông thông qua việc xây dựng “Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau” nhằm tạo cơ hội cho NCT tự cải thiện cuộc sống của bản thân, gia đình, cộng đồng và tăng cường vai trò, sự đóng góp của NCT trong cải thiện sức khỏe, thu nhập, phát triển ở địa phương; Nghiêm túc thực hiện các quy định về tiếp cận nhà chung cư, công trình công cộng, giao thông cho NKT; Quan tâm công tác tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ để một công chức có thể thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ; đẩy mạnh xã hội hóa công tác NCT, NKT; tạo điều kiện cho các Hội, các tổ chức xã hội thực hiện công tác NCT, NKT; thành lập đội công tác xã hội tại cấp xã để hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn; Tăng cường chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách, pháp luật NCT, NKT ở địa phương; nâng cao chất lượng báo cáo thống kê về công tác NCT, NKT… Toàn văn báo cáo kết quả khảo sát xem tại đây QUỐC THỊNHLượt xem: 514
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.