Vai trò, trách nhiệm của Thường trực HĐND trong hoạt động giám sát của HĐND TP Hà Nội

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Thường trực HĐND Thành phố đã tổ chức 16 cuộc giám sát chuyên đề lớn, các Ban HĐND tổ chức được hơn 80 cuộc giám sát, tái giám sát, khảo sát chuyên sâu. Hoạt động giám sát của HĐND thành phố Hà Nội đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như việc thực thi pháp luật trên địa bàn, được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và cử tri ghi nhận, đánh giá tốt, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển Thủ đô Nghìn năm văn hiến.

Hoạt động giám sát là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên đồng thời là chức năng cơ bản của HĐND các cấp. Theo đó: HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Hoạt động giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các Ban HĐND và giám sát của đại biểu HĐND.

Thực hiện Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003 và căn cứ tình hình, yêu cầu thực tiễn ở địa phương; hàng năm, trên cơ sở đề nghị của các Ban HĐND, đại biểu HĐND, Thường trực UB MTTQ Thành phố và những kiến nghị của cử tri ở địa phương, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội chủ trì dự kiến khung nội dung, chương trình giám sát của HĐND năm sau trình HĐND xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm. Căn cứ Nghị quyết của HĐND về chương trình giám sát và yêu cầu thực tiễn, Thường trực, các ban HĐND xây dựng kế hoạch giám sát cụ thể theo từng tháng, quý, phân công rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, nội dung, đối tượng, phương thức, thời điểm tổ chức giám sát...

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Thường trực HĐND Thành phố đã tổ chức 16 cuộc giám sát chuyên đề lớn, các Ban HĐND tổ chức được hơn 80 cuộc giám sát, tái giám sát, khảo sát chuyên sâu. Hoạt động giám sát được triển khai thực hiện theo chương trình, kế hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật. Nội dung giám sát tập trung việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu; việc đẩy mạnh cải cách hành chính, quản lý đất đai, đô thị, xây dựng nông thôn mới, việc cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn Thành phố; tình hình, kết quả giải quyết kiến nghị cử tri và kết quả giải quyết KNTC của công dân trên địa bàn Thành phố; việc thực hiện chính sách về xã hội hóa tại các bệnh viện công lập của thành phố Hà Nội; việc chấp hành pháp luật trong đầu tư thực hiện các dự án nhà ở thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội...

Việc tổ chức các hoạt động giám sát được phối hợp tốt, không để trùng lắp về nội dung, thời gian, đối tượng, địa điểm. Thông qua giám sát, Thường trực và các ban HĐND Thành phố có thêm thông tin để thẩm tra các báo cáo, tờ trình, đề án, dự thảo nghị quyết do UBND trình kỳ họp, góp phần quyết định chính xác các vấn đề liên quan đến chủ trương, cơ chế, chính sách và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Nét mới trong hoạt động giám sát của HĐND Thành phố là xác định đúng vấn đề, đúng trọng tâm, nội dung, đối tượng cần giám sát; tổ chức giám sát công khai, sát dân, sát cơ sở; mời lãnh đạo Ban Thường trực Ủy ban MTTQ, UBND Thành phố, Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội, Tổ đại biểu, Thường trực HĐND địa phương nơi đoàn đến giám sát và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan cùng tham dự. Qua hoạt động giám sát đã chỉ rõ nguyên nhân, trách nhiệm của từng ngành, cấp và người đứng đầu đối với từng nội dung cụ thể; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp, điều kiện, tiến độ giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng. Hoạt động giám sát của HĐND thành phố Hà Nội trong những năm qua đã có tác động tích cực đến sự phát triển KT-XH cũng như việc thực thi pháp luật trên địa bàn, được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và cử tri ghi nhận, đánh giá tốt, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của Thường trực HĐND đối với hoạt động giám sát của HĐND Thành phố:

1. Nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của Thường trực HĐND đối với hoạt động giám sát của HĐND, đồng thời tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động giám sát cho đại biểu HĐND và cử tri.

Trước hết, Thường trực HĐND cần nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của Thường trực HĐND trong việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND theo quy định pháp luật. Đồng thời, cần tạo sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của công tác giám sát của HĐND. Nhận thức này cần được quán triệt sâu sắc tới các cấp, các ngành và tất cả mọi người dân. Ngoài ra, cần giúp cho các đại biểu HĐND nhận thức đầy đủ hơn về chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, nội dung giám sát và phương thức giám sát.

2. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện chức năng quyết định và chức năng giám sát của HĐND Thành phố.

Hai chức năng quan trọng không thể tách rời, đã được pháp luật quy định cho HĐND. Muốn quyết định đúng những vấn đề thuộc thẩm quyền, quyết định trúng những vấn đề trọng tâm đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội, HĐND phải thực hiện tốt công tác giám sát. Hoạt động giám sát chính là một trong những điều kiện rất quan trọng, mang tính chất tiền đề để thực hiện tốt chức năng quyết định của HĐND.

Hoạt động giám sát giúp cho hoạt động của HĐND Thành phố đi đúng hướng, đúng mục tiêu và đúng kế hoạch đã đề ra; giúp HĐND kịp thời có giải pháp xử lý những khó khăn, vướng mắc; giúp kiểm tra lại tính đúng đắn, sự phù hợp của các quy định pháp luật và những chủ trương, biện pháp mà HĐND đã quyết nghị; đảm bảo cho các quy định pháp luật, nghị quyết HĐND, cam kết của chính quyền với cử tri... được thực thi nghiêm túc.

Trong quá trình thực hiện các hoạt động giám sát, các vấn đề thực tiễn bức xúc, có liên quan đến đời sống dân sinh của người dân tại địa phương được phát hiện, từ đó Thường trực, các ban, các tổ đại biểu HĐND tổ chức thu thập thêm thông tin và đưa ra bàn tại kỳ họp để HĐND Thành phố quyết định những cơ chế, chính sách, biện pháp giải quyết phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.

3. Coi trọng công tác xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát.

Theo quy định pháp luật thì giám sát là loại hoạt động có kế hoạch và được báo trước. Từ thực tiễn hoạt động giám sát của HĐND thành phố Hà Nội cho thấy việc xác định trọng tâm công tác giám sát và xây dựng cụ thể chương trình, kế hoạch giám sát của HĐND Thành phố hàng năm có vai trò rất quan trọng. Vì vậy, Thường trực HĐND cần quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao thực hiện nội dung này ngay từ khi chuẩn bị trình HĐND thông qua Nghị quyết về chương trình giám sát năm sau của HĐND cho đến khi xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND. Khi thực hiện nội dung này, với tư cách là một chủ thể giám sát, Thường trực HĐND phải chủ động xây dựng kế hoạch giám sát của mình trước, và với trách nhiệm điều hòa, phối hợp hoạt động, Thường trực  HĐND phải chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch giám sát của các ban, các tổ đại biểu và có trách nhiệm tổng hợp thành kế hoạch giám sát chung của HĐND trong năm và chỉ đạo thực hiện kế hoạch đó.

Nội dung, kế hoạch giám sát càng cụ thể, bám sát với những chủ trương và trọng tâm chỉ đạo, với những vấn đề được đông đảo nhân dân và cử tri quan tâm thì càng phát huy tác dụng tích cực trong thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đồng thời góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc, tạo niềm tin của nhân dân đối với chính quyền.

4. Tổ chức tốt các đoàn giám sát của Thường trực HĐND và theo dõi, chỉ đạo hoạt động giám sát của các ban, tổ đại biểu.

Thường trực HĐND không chỉ phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động giám sát của HĐND mà phải nêu gương tốt, làm mẫu trong hoạt động giám sát.

Trên cơ sở chương trình và kế hoạch giám sát cả năm và từng quý, từng tháng, việc tổ chức các hoạt động giám sát cần được nghiên cứu hợp lý, đảm bảo hiệu quả, thiết thực, đáp ứng với nhiệm vụ chính trị của địa phương trong từng thời kỳ. Quan tâm thực hiện một số biện pháp sau:

+ Thu thập thông tin, chuẩn bị trước tài liệu, tư liệu có liên quan đến nội dung giám sát, đơn vị chủ trì giám sát cần gửi trước văn bản yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan chuẩn bị báo cáo theo nội dung giám sát.

+ Coi trọng yêu cầu cụ thể, thiết thực, sát dân, sát cơ sở. Tổ chức đoàn giám sát đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều người, vì vậy không chạy theo số lượng mà cần tập trung vào chất lượng, hiệu quả của các cuộc giám sát, đáp ứng được nguyện vọng của đa số nhân dân, từng bước giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.

+ Ra thông báo kết luận giám sát kịp thời, khách quan và gửi đến các cơ quan có liên quan. Thông báo kết luận cần khẳng định những mặt ưu điểm và kết quả đạt được, chỉ rõ những hạn chế, nguyên nhân, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân; đề xuất hướng khắc phục và kiến nghị với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc giải quyết, xử lý những khó khăn, vướng mắc (có thời gian, tiến độ cụ thể).

5. Phát huy vai trò của chủ tọa trong tổ chức, điều hành các phiên họp HĐND, nâng cao chất lượng và hiệu quả các phiên thảo luận và chất vấn tại các kỳ họp HĐND.

Thường trực HĐND phải: Chuẩn bị thật chu đáo cho các phiên thảo luận hay chất vấn tại kỳ họp; điều hành phiên thảo luận hay chất vấn thật sự khoa học, đảm bảo dân chủ , công khai, công tâm và trách nhiệm cao trước đại biểu và cử tri; chỉ đạo hoàn thiện nghị quyết hay ra thông báo kết luận chất vấn sau kỳ họp đảm bảo kịp thời, đúng tinh thần thảo luận của HĐND và kết luận của chủ tọa tại mỗi phiên họp hay phiên chất vấn; chỉ đạo việc theo dõi, giám sát tình hình thực hiện các nghị quyết, các kết luận phiên chất vấn tại kỳ họp.

6. Đôn đốc, kiểm tra thực hiện các kết luận giám sát

Luật Tổ chức HĐND & UBND năm 2003 và Quy chế hoạt động của HĐND đã có những quy định riêng về hoạt động giám sát (trình tự thực hiện, quyền hạn, nhiệm vụ của các Đoàn giám sát cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát của HĐND...). Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề hiệu lực của hoạt động giám sát luôn là khâu yếu của HĐND các cấp do nhiều lý do khác nhau, trong đó có nguyên nhân do quy định của pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu chế tài xử lý vi phạm. Do vậy, các kết luận giám sát, mỗi nội dung chất vấn cần được Thường trực HĐND chỉ đạo tổng hợp và phân công các Ban và Văn phòng theo dõi, đôn đốc quá trình thực hiện đảm bảo đúng nội dung, tiến độ. Đồng thời có biểu dương những đơn vị làm tốt cũng như có hình thức làm rõ trách nhiệm đối với từng cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình thực hiện các kết luận giám sát.

Bên cạnh đó sử dụng dư luận và công luận như một giải pháp cần thiết để nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các kết luận giám sát. Trường hợp cơ quan, đơn vị cố tình chậm trễ trong việc triển khai thì cần tổ chức giám sát việc thực hiện (mời các cơ quan báo chí, thông tấn tham dự và đưa tin công khai cho cử tri, nhân dân biết).

Ngoài ra, một số giải pháp khác như tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng về hoạt động giám sát cho đại biểu HĐND; tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, chuyên viên tổng hợp thuộc Văn phòng, nhất là các nội dung chuyên môn sâu theo từng lĩnh vực công tác để có thể thực hiện tốt chức năng tham mưu, giúp việc cho Thường trực và các Ban HĐND; đảm bảo điều kiện vật chất, kinh phí phục vụ các hoạt động giám sát…  

Nguyễn Quang Thắng

Lượt xem: 629

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.