Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đại đoàn kết là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong tư duy, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết có nội hàm rộng. Đó là sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với tinh thần: “Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”

Đại đoàn kết là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong tư duy, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết có nội hàm rộng. Đó là sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với tinh thần: “Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”1. Như vậy, đại đoàn kết dân tộc cũng tức là đại đoàn kết toàn dân, nghĩa là tập hợp mọi người dân vào một khối thống nhất giữa ý chí và hành động trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, v.v. Theo Người: “Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái”2. Từ đó Người khẳng định, đại đoàn kết dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Bởi chỉ có Đảng của giai cấp công nhân mới có mục đích tiêu biểu cho những yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân cả nước, được các tổ chức, đảng phái và toàn dân tin tưởng, ủng hộ, để có thể “đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”3, đồng thời có mối liên hệ với đông đảo bè bạn ở ngoài nước. Theo Bác, muốn được thừa nhận quyền lãnh đạo, thì trong đấu tranh và công tác hằng ngày, Đảng phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất, chân thực nhất và “khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. Hồ Chí Minh đã chỉ ra các điểm tương đồng làm căn cứ trong việc tập hợp tất cả những người yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” và “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”4. Để khối đại đoàn kết rộng rãi bảo đảm được vững chắc thì phải lấy liên minh công nông làm nền tảng, vì: “Muốn đoàn kết rộng rãi thì cái gốc phải vững, tức là công nông liên minh có vững chắc mới đoàn kết được các giai cấp khác”5. Để đoàn kết chặt chẽ, theo Người, mục đích và lập trường phải nhất trí nhưng cũng cần phải đấu tranh, đấu tranh là để tăng cường đoàn kết, khắc phục tình trạng đoàn kết xuôi chiều; tích cực phê bình và tự phê bình nhằm biểu dương mặt tốt, khắc phục những mặt chưa tốt mới giúp củng cố khối đoàn kết: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình” vì “phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết”6.

Với tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng được một khối đại đoàn kết toàn dân tộc có sức mạnh to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội nên cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội đa dạng, phức tạp với sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau với những lợi ích cũng rất đa dạng, khác nhau. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế vừa mở ra nhiều cơ hội nhưng vừa làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng luôn coi trọng đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung và lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng cho các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc. Để khối vững chắc, Đảng lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng. Bởi vì, họ là các giai tầng cơ bản, chủ yếu trong cơ cấu xã hội - giai cấp, lại có lợi ích thống nhất với các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đồng thời, tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc; quan tâm, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho các thành phần của xã hội phát triển. Cùng với đó, quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài và có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những chủ trương, phương hướng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên hoàn toàn đúng với tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và có sự phát triển phù hợp với tình hình mới. Nếu tổ chức thực hiện tốt, sẽ xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc có sức mạnh to lớn, đưa cách mạng Việt Nam hoàn thành thắng lợi mọi mục tiêu đề ra. Muốn vậy, hãy thấm nhuần lời Bác: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”7. Điều đó có nghĩa không phải cứ giương “đại đoàn kết toàn dân tộc” lên thì đã có đại đoàn kết toàn dân tộc. Sinh thời, Hồ Chí Minh thường nói đến cụm từ “đoàn kết thật sự” để yêu cầu các tổ chức, địa phương, đoàn thể và các cán bộ, đảng viên, đoàn viên cho đến mọi người dân phải chú ý thực hiện tinh thần đoàn kết từ những việc làm cụ thể hằng ngày, chứ không nhất thiết phải là những việc liên quan đến mặt trận hoặc chính sách đoàn kết, như: “Học nhau điều hay, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, thế là đoàn kết thật sự”, “thi đua tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết đẩy mạnh thi đua. Đoàn kết ấy là đoàn kết thật sự và rất chặt chẽ”, thậm chí gắn liền với bất cứ người dân nào: “Gia đình là hạt nhân của xã hội. Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại đoàn kết”8. Từ đó suy ra mỗi thành phần trong Khối mà đoàn kết thực sự thì Khối sẽ đoàn kết thực sự, đặc biệt là Đảng Cộng sản (thành phần lãnh đạo Khối). Theo Hồ Chí Minh: “Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Thời gian qua, bằng việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã tạo được chuyển biến tích cực trên nhiều mặt của đời sống, chính trị, xã hội, nhân dân phấn khởi, tăng niềm tin vào Đảng. Tuy nhiên, để “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”9, thì còn nhiều việc phải làm. Đó là, thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt, tự đổi mới, tự chỉnh đốn; các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tự soi, tự sửa, coi trọng khắc phục khâu yếu, mặt yếu, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao. Các cấp ủy đảng và mỗi đảng viên phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng, tiếp thu ý kiến xây dựng của nhân dân để nâng cao chất lượng các mặt công tác và xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Các thành phần khác của Khối tùy theo chức năng, nhiệm vụ cũng cần chủ động có những giải pháp phù hợp trong việc xây dựng nội bộ đoàn kết chặt chẽ thực sự thì kết quả sẽ là khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh.

Với quan điểm “cán bộ là gốc của mọi công việc”, nên trong vấn đề đại đoàn kết toàn dân, Bác luôn đòi hỏi: “Cán bộ, đảng viên và đoàn viên phải đoàn kết chặt chẽ; phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích chung của nhân dân lên trên lợi ích riêng của mình; phải làm gương mẫu trong đoàn kết dân tộc”10. Thế nhưng hiện nay, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền, không thực hiện đúng lời Bác, dẫn tới sa sút phẩm chất, sống xa dân, thiếu trách nhiệm với dân, tác phong quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí trù dập, ức hiếp quần chúng. Vì vậy, chúng ta càng thấm thía biết bao tư tưởng đại đoàn kết của Người. Càng trong gian khó, càng cần phải đoàn kết, thống nhất để vượt qua, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn, chiến thắng giặc ngoại xâm và giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới. Do vậy, cần tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên sức mạnh vô địch trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Đại tá NGUYỄN CÔNG TÂM
__________

1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 90.

2 - Sđd, Tập 3, tr. 480.

3, 4, 5 - Sđd, Tập 9, tr. 244, 244, 69.

6 - Sđd, Tập 10, tr. 584.

7 - Sđd, Tập 6, tr. 16.

8 - Sđd, Tập 13, tr. 524.

9 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 160.

10 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 96.

Lượt xem: 3948

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.