Xem xét, ban hành cơ chế chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn tại Kỳ họp HĐND TP cuối năm 2013

Thường trực HĐND TP Hà Nội đề nghị tiếp tục tham mưu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn để trình HĐND TP vào kỳ họp cuối năm 2013 theo nguyên tắc: Nhà nước tập trung hỗ trợ nhưng khâu khó, những khâu có tác động quyết định và có khả năng lan tỏa; Hỗ trợ phải bám sát mục tiêu nhằm hình thành vùng sản xuất tập trung theo quy hoạch, chú trọng hỗ trợ hạ tầng dùng chung, khuyến khích áp dụng kỹ thuật vào sản xuất; giảm dần sự can thiệp trực tiếp của cấp Thành phố, tăng tính chủ động của địa phương.

Vừa qua, Thường trực HĐND Thành phố Hà Nội đã tiến hành giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/4/2010 của HĐND Thành phố về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 – 2020, định hướng 2030 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 03) và Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐND ngày 5/4/2012 về thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 – 2016 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 04).

Khung cảnh nông thôn hiện tại tại xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng - Ảnh: Chí Đạo

Đánh giá qua 3 năm thực hiện Nghị quyết 03 và 1 năm thực hiện Nghị quyết 04 cho thấy, toàn Thành phố đã có 236/401 xã (59%) đạt và cơ bản đạt 10 – 19 tiêu chí xây dựng NTM, trong đó có 12 xã đạt 19/19 tiêu chí. Công tác lập và phê duyệt quy hoạch xã NTM, vận động nông dân dồn điền đổi thửa, xây dựng đường giao thông nội đồng, cải tạo đường làng ngõ xóm... được thực hiện trên diện rộng và đạt kết quả tốt. Một số chương trình mục tiêu lồng ghép như xây dựng trường học, trạm y tế, nhà văn hóa tuy chưa đạt tiến độ nhưng đã có tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Từ năm 2009 đến hết năm 2012, tỷ lệ người lao động có việc làm thường xuyên tăng từ 57,85% lên 95%; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 12 triệu đồng/người lên 21 triệu đồng/người; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 9,27% xuống còn 5,1%... Hệ thống chính trị được củng cố và tăng cường, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Riêng chính sách khuyến khích hỗ trợ dồn điền đổi thửa theo Nghị quyết 04 được triển khai trên diện rộng và phát huy tác động rất tích cực. Tính đến hết năm 2012, toàn Thành phố dồn được 35.663ha/19/444ha, đạt 183,4% kế hoạch...

Tuy nhiên, Thường trực HĐND TP nhận thấy, tiến độ thực hiện ở một số huyện, thị xã còn chậm so với mục tiêu, kế hoạch đề ra; nếu không có biện pháp chỉ đạo quyết liệt thì khả năng đến năm 2015 có từ 140 đến 160 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo chỉ tiêu Nghị quyết 03 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố là khó khăn.

Việc triển khai Nghị quyết HĐND Thành phố và việc ban hành một số văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm và thiếu. Cụ thể, sau 8 tháng ban hành Nghị quyết 03, UBND TP mới có Quyết định 6330/QĐ-UBND ngày 23/12/2010 ban hành Quy định tạm thời về trình tự, thủ tục lập, thẩm định, trình duyệt Đề án Xây dựng NTM cấp huyện và Đề án xây dựng NTM cấp xã trên địa bàn TP Hà Nội giai đoạn 2010 – 2020; sau 3 tháng ban hành Nghị quyết 04, ngày 6/7/2012 UBND TP mới có Quyết định số 16/QĐ-UBND cụ thể hóa một số chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp; UBND TP cũng chưa có hướng dẫn về định mức kinh phí thực hiện công tác đo đạc, kinh phí cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hướng dẫn xử lý diện tích đất dôi ra sau dồn điền đổi thửa...

Công tác tuyên truyền chưa sâu, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác xây dựng NTM thiếu toàn diện; một số địa phương quá chú trọng đến việc đầu tư hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, chưa quan tâm triển khai sâu rộng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện quy ước, hương ước ở thôn, làng. Một số nội dung, lĩnh vực không cần đầu tư nhiều kinh phí nhưng nếu được quan tâm chỉ đạo và biết cách tổ chức, phát động phong trào thì vẫn có thể làm tốt như: Tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao; xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào toàn dân tham gia giữ gìn trật tự trị an, giữ vệ sinh môi trường... Ở một vài nơi, do chưa thật quan tâm chỉ đạo và chưa chú trọng tổ chức xây dựng phong trào nên kết quả còn hạn chế. Việc huy động nguồn lực tại chỗ, phát huy vai trò chủ thể của người dân và chính quyền địa phương trong xây dựng NTM chưa thật rõ nét.

Do quy hoạch NTM được tiến hành trước khi có quy hoạch chung, quy hoạch tổng thể Thủ đô, quy hoạch phân khu và quy hoạch ngành nên đến nay một số nội dung trong quy hoạch NTM không còn phù hợp, cần phải rà soát, điều chỉnh.

Công tác tổ chức lại sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn kết quả còn hạn chế; chưa quan tâm khuyến khích, tạo điều kiện cho các hình thức tổ chức kinh tế mới ra đời như: Doanh nghiệp nông nghiệp, HTX sản xuất, HTX dịch vụ...; đường giao thông, thủy lợi nội đồng mặc dù đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển cơ giới hóa. Quy mô sản xuất, quy mô ruộng đất cơ bản còn nhỏ lẻ, manh mún. Chưa có nhiều khu sản xuất tập trung, chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa.

Môi trường, cảnh quan chưa sạch đẹp, chưa tạo thói quen và ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường. Hạ tầng kỹ thuật nông thôn còn thấp kém, mới chú trọng đến giao thông. Môi trường sinh thái, rác thải, nước thải, ao tù, nước sạch nông thôn... vẫn là những vấn đề bức xúc, đặc biệt ở các làng nghề. Công tác chỉnh trang, cải tạo, quản lý nghĩa trang theo quy hoạch chưa được quan tâm thực hiện.

Nguồn vốn cho xây dựng NTM còn thiếu, chưa đảm bảo theo cơ cấu vốn dự kiến cho từng nguồn; vốn tín dụng, vốn huy động đóng góp của người dân, doanh nghiệp thấp (chỉ chiếm 3 – 5%), chủ yếu vẫn là từ ngân sách nhà nước (chiếm 87,4%). Ngân sách cấp huyện và cấp xã không đủ để đối ứng vốn theo đề án. Một số địa phương do nhận thức chưa đầy đủ nên đã máy móc bố trí vốn từ nhiều nguồn cho một dự án dẫn đến khó khăn phức tạp cho quản lý đầu tư; một số nơi cho doanh nghiệp ứng vốn thi công dẫn đến nợ xây dựng cơ bản. Nhiều huyện có “đất sạch”, đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật nhưng chưa tổ chức đấu giá được do vướng mắc về cơ chế, thủ tục trong đấu giá đất. Nguồn kinh phí cấp hỗ trợ dồn điền đổi thửa còn chậm và thiếu. Công tác tổng hợp nguồn vốn xây dựng NTM còn bỏ sót và chưa thống nhất, nhiều địa phương chưa theo dõi và tổng hợp nguồn kinh phí lồng ghép, nguồn vốn do nhân dân đóng góp...

4/6 cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư theo Nghị quyết 04 triển khai thực hiện chưa có kết quả. Một số huyện đã vượt qua cơ chế, chính sách của Thành phố, chủ động xây dựng cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách huyện cho các HTX mua máy thực hiện cơ giới hóa (Thanh Trì, Sóc Sơn, Phú Xuyên...)

Báo cáo kết luận giám sát của Thường trực HĐND TP đã đề nghị UBND TP tiếp tục tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng NTM, coi xây dựng NTM là một chủ trương tổng thể, toàn diện, cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với khẩu hiệu “Chung tay xây dựng nông thôn mới”. Đây là công việc cần phải kiên trì, bền bỉ, không nóng vội, cũng không cầu toàn, cần có bước đi hợp lý, có lộ trình, giải pháp phù hợp với thực tiễn. Tổ chức sơ kết, tổng kết những kinh nghiệm tốt, cách làm hay ở các địa phương để tuyên truyền, nhân rộng.

Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thường trực Ban chỉ đạo xây dựng NTM Thành phố và các ban, ngành, đoàn thể; hướng dẫn đánh giá các tiêu chí chứng nhận quyền sử dụng đất, xử lý diện tích đất dôi ra (nếu có) sau dồn điền đổi thửa. Rà soát, đánh giá lại hiệu quả hoạt động của các trạm cung cấp nước sạch ở nông thôn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án về nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn. Nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, các vùng sản xuất tập trung, gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, phân cấp quản lý về quy hoạch kiến trúc về đầy tư xây dựng cơ bản cho các dự án nằm trong quy hoạch NTM. Kiến nghị cấp có thẩm quyền tháo gỡ khó khăn trong đấu giá quyền sử dụng đất, trong thủ tục và điều kiện vay vốn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân, HTX, doanh nghiệp tiếp cận vay vốn trong hệ thống tín dụng, ngân hàng trên địa bàn.

Đặc biệt, Thường trực HĐND TP Hà Nội đề nghị tiếp tục tham mưu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn để trình HĐND TP vào kỳ họp cuối năm 2013 theo nguyên tắc: Nhà nước tập trung hỗ trợ nhưng khâu khó, những khâu có tác động quyết định và có khả năng lan tỏa; hỗ trợ phải bám sát mục tiêu nhằm hình thành vùng sản xuất tập trung theo quy hoạch, chú trọng hỗ trợ hạ tầng dùng chung, khuyến khích áp dụng kỹ thuật vào sản xuất; giảm dần sự can thiệp trực tiếp của cấp Thành phố, tăng tính chủ động của địa phương. Việc xây dựng cơ chế chính sách tổng thể về đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn cần tập trung theo hướng: Tăng tỷ lệ đầu tư từ ngân sách trong tổng nguồn ngân sách để đầu tư cho nông nghiệp và khu vực nông thôn; ưu tiên những địa phương, cơ sở khó khăn; cơ chế vận hành: Thành phố phân bổ nguồn lực, cấp huyện điều hành, cấp xã tổ chức thực hiện.

DUY LINH

Lượt xem: 387

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương làm việc với 10 phường về công tác chuẩn bị bầu cử

Tin hoạt động - HĐND 1 ngày trước

Cùng dự có đồng chí Duy Hoàng Dương, Thành ủy viên, Trưởng Ban Pháp chế HĐND Thành phố; đại diện lãnh đạo các Ban HĐND Thành phố; đại diện Sở ngành và lãnh đạo 10 phường: Ba Đình, Ngọc Hà, Giảng Võ, Hoàng Mai, Lĩnh Nam, Vĩnh Hưng, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở.  Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương chủ trì buổi giám sátTheo đánh giá của đoàn giám sát, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và Thành phố về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, 10 phường đã và đang triển khai công tác chuẩn bị bầu cử nghiêm túc, bài bản, bảo đảm đúng tiến độ và quy định pháp luật.Các nội dung công việc được triển khai đúng quy trình, tiến độ như: việc thành lập Ban Chỉ đạo, Ủy ban bầu cử, các Tiểu ban phục vụ bầu cử. Các phường đã hoàn thành hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, thống nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND bảo đảm tính đại diện, tính kế thừa và đổi mới.Điểm đáng chú ý trong công tác chuẩn bị bầu cử tại các phường là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Các đơn vị khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng VNeID để lập, rà soát danh sách cử tri, góp phần hạn chế trùng lặp, sai sót. Các địa phương cũng đã hoàn thành việc xác định số đơn vị bầu cử, phân chia khu vực bỏ phiếu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân cư.Đại diện các phường báo cáo tại buổi làm việcBên cạnh kết quả đạt được, công tác chuẩn bị bầu cử tại các phường cũng gặp một số khó khăn trong rà soát, lập danh sách cử tri khi dân cư đông, biến động lớn, đặc biệt tại các địa bàn có nhiều nhà cho thuê, chung cư cao tầng, khu tái định cư hoặc đang giải phóng mặt bằng; phần mềm quản lý danh sách cử tri hiện chủ yếu trích xuất theo khu vực bỏ phiếu, chưa theo tổ dân phố; tốc độ xử lý dữ liệu còn chậm; đội ngũ cán bộ tham gia công tác bầu cử phần lớn là kiêm nhiệm, nhiều người lần đầu đảm nhận nhiệm vụ, trong khi khối lượng công việc lớn và yêu cầu tiến độ cao...Từ thực tế đó, các phường kiến nghị Công an Thành phố sớm tháo gỡ vướng mắc kỹ thuật, cho phép phần mềm trích xuất danh sách cử tri theo tổ dân phố; đồng thời nghiên cứu bổ sung tính năng thông báo thông tin bầu cử cho cử tri qua ứng dụng VNeID. Các đơn vị cũng đề xuất Thành phố sớm cấp phát đầy đủ kinh phí phục vụ bầu cử, trang bị thêm thiết bị công nghệ thông tin chuyên dụng và tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về công tác bầu cử. Thành viên Đoàn giám sát phát biểu tại buổi làm việcTại buổi làm việc, thành viên đoàn giám sát đã trao đổi, làm rõ những nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị bầu cử tại cơ sở. Đoàn đề nghị các phường tiếp tục rà soát chặt chẽ danh sách cử tri, bảo đảm không bỏ sót, không trùng lặp; chủ động cập nhật, phản ánh kịp thời những vướng mắc để các cơ quan chức năng xem xét, tháo gỡ...Phát biểu kết luận buổi giám sát, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương cho biết, đoàn giám sát ghi nhận Ủy ban bầu cử các phường đã thực hiện đầy đủ, thực hiện tốt các quy định, hướng dẫn của Trung ương và Thành phố về công tác bầu cử. Với những khó khăn, vướng mắc và đề xuất của các đơn vị về việc rà soát dân cư, lập danh sách cử tri, sử dụng phần mềm quản lý thông tin bầu cử, cấp kinh phí, năng lực của cán bộ tham gia công tác bầu cử... Trưởng đoàn giám sát đề nghị các sở, ngành chức năng quan tâm tháo gỡ; quan tâm phối hợp rà soát danh sách cử tri trên VNeID kết hợp trực tiếp tại địa bàn dân cư. Đồng thời, cùng với việc đào tạo tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ cơ sở, cần quan tâm tập huấn người ở tổ dân phố thực hiện nhiệm vụ bầu cử.Nhấn mạnh từ nay đến ngày bầu cử thời gian còn rất gấp, diễn ra ngay sau Tết nguyên đán với khối lượng công việc rất nhiều, có tính chất quyết định đến thành công của cuộc bầu cử,  Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương đề nghị Ủy ban bầu cử các phường tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kết hợp với tuyên truyền vui Xuân đón Tết. Chú ý tuyên truyền theo mẫu hướng dẫn để có sự thống nhất, đồng bộ.Đồng thời, các phường tổ chức tốt các hội nghị tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử; nghiêm túc thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, không để phát sinh nhất là những vụ việc đông người, phức tạp, nhạy cảm; bảo đảm an ninh, trật tự; chuẩn bị kinh phí bảo cho công tác bầu cử... Nêu một số mốc thời gian cụ thể hoàn thành các công việc như: tiếp nhận hồ sơ ứng cử đại biểu HĐND phường; hoàn thành việc thành lập các Tổ bầu cử tại các khu vực bỏ phiếu bầu cử; hội nghị hiệp thương lần thứ hai và niêm yết danh sách cử tri; lấy ý kiến cử tri nơi cư trú của đại biểu HĐND các cấp; hội nghị hiệp thương lần thứ 3..., Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố đề nghị các đơn vị thực hiện đúng tiến độ các mốc thời gian; thực hiện đúng quy trình, quy định, đặc biệt cần nghiêm túc chế độ gửi báo cáo đến Ủy ban bầu cử Thành phố để kịp thời chỉ đạo giải quyết đối với những vấn đề  thẩm quyền./.