Bộ trưởng Cao Đức Phát: Đột phá là phải tái cơ cấu nông nghiệp

Dẫn chứng 2 nội dung cụ thể về kết quả kiểm tra chất lượng phận bón với tỷ lệ cao đã không đạt tiêu chuẩn và thiệt hại lúa lép hạt bởi giống lúa BC15, Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà – Phó Trưởng đoàn ĐBQH Hà Nội đã chất vấn: "Bộ NN&PTNT xử lý giải quyết cụ thể thế nào, cần làm rõ trách nhiệm quản lý vật tư nông nghiệp giống lúa, vật tư phân bón để người nông dân yên tâm sản xuất".

Là người đăng đàn đầu tiên, mở đầu phiên trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT thừa nhận, nhu cầu giống cho sản xuất nông, lâm ngư nghiệp hiện nay chưa được đáp ứng, còn phụ thuộc vào nhập ngoại, trong lúc giá các loại giống và vật tư tăng cao, biến động thường xuyên, hàng giả, hàng kém chất lượng xuất hiện nhiều trên thị trường.

Nông nghiệp lệ thuộc?

Nguy cơ nông nghiệp Việt Nam lệ thuộc vào nước ngoài khi phải chi hàng tỷ USD hàng năm nhập nguyên liệu đầu vào, con giống, cây giống, vắc xim phòng bệnh vật nuôi, trong đó 70% thức ăn chăn nuôi phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI là vấn đề ĐB Nguyễn Ngọc Hòa (TP HCM) mở đầu phiên chất vấn Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát.

“Có hay không việc lệ thuộc đầu vào nước ngoài?” - ĐB Nguyễn Ngọc Hòa (TP.HCM) hỏi.

Bộ trưởng Cao Đức Phát giải trình : “Có thông tin nói giống lúa nước ta 60-70% phụ thuộc nước ngoài. Tôi xin báo cáo với Quốc hội và cử tri thông tin này là không chính xác. Các loại giống, cây trồng, vật nuôi cơ bản sản xuất trong nước".

Theo Bộ trưởng, các loại con giống hiện nay hầu như tự sản xuất lấy. Có thể lấy nguồn gen từ các nước khác nhưng khi đưa về các nhà khoa học sẽ chuyển đổi cho phù hợp điều kiện nuôi trồng trong nước.

Đối với gia súc, Việt Nam có nhập một số con đầu dòng (ông bà, cụ kỵ) sau đó tổ chức nhân ra thành giống thương phẩm. Về lúa, Việt Nam hiện trồng 7,7 triệu ha lúa/năm, trong đó diện tích reo trồng 700 ngàn lúa lai, 7 triệu ha lúa thuần là tự sản xuất lấy. Riêng ở miền Bắc có một số diện tích nhập lúa lai 70% của nước bạn Trung Quốc.

“Chúng ta cố gắng tạo điều kiện các nhà hoa học chọn tạo giống lúa lai Việt Nam nhưng có phẩm chất chưa tốt bằng nước bạn nên tiếp tục nhập khẩu”.

ĐB Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) cho rằng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có nhiều giải pháp để tăng năng suất, sản lượng nông nghiệp. Nhưng chất lượng nông sản lại thấp so với một số nước trong khu vực dẫn đến hàng hóa ứ đọng, khó tiêu thụ… làm cho nông dân dù cố gắng sản xuất đến đâu cũng không thoát được nghèo.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, cơ bản có một số sản phẩm chất lượng thua kém so với một số nước như về lúa gạo là chất lượng trung bình khá chứ không phải cao…

Trong thời gian tới, Bộ sẽ tập trung nâng cao chất lượng hàng nông sản, giá trị nông sản. Đây là nhiệm vụ, mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Theo đó, đảm bảo có giống tốt phổ biến cho bà con, có hệ thống cơ sở hạ tầng tương thích, giúp nông dân sản xuất ổn định, đáp ứng chất lượng, an toàn thực phẩm.

 Buông lỏng quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp

Bị phụ thuộc giống ngoại, nhưng theo các ĐB, thời gian qua công tác quản lý thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng phân bón giả và giống cây trồng kém chất lượng vẫn còn nhiều bất cập đã gây thiệt hại cho người nông dân, sản phẩm bị cạnh tranh gay gắt khó tiêu thụ. "Bộ NN&PTNT xử lý giải quyết cụ thể thế nào, cần làm rõ trách nhiệm quản lý vật tư nông nghiệp giống lúa, vật tư phân bón để người nông dân yên tâm sản xuất" - ĐB Nguyễn Thị Hồng Hà (Đoàn Hà Nội) chất vấn.

Về vấn đề này, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, đây là vấn đề bức xúc thời gian qua, Bộ NN &PTNT đã phối hợp với các bộ xây dựng hành lang pháp lý, cùng các địa phương kiểm tra về mặt sản phẩm cũng như đấu tranh chống vật tư giả trên thị trường. Riêng về vấn đề lép hạt bởi giống lúa BC15, đã được kiểm tra và kết luận do thiệt hai bởi thiên tai, không phải do chất lượng giống; Bộ Nông nghiệp & PTNT đã trình Thủ tướng cơ chế nhà nước hỗ trợ, ngoài ra, Tổng Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình đã hỗ trợ nông dân 1.000 tấn giống lúa...

Tham gia trả lời chất vấn cùng Bộ trưởng NN&PTNT, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết đã chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu, hàng giả, kém chất lượng... trong sản xuất, kinh doanh phân bón. Tuy nhiên, các hình thức vi phạm vẫn tiếp diễn, nguyên nhân do các chế tài xử phạt còn nhẹ; việc xử lý các trường hợp tăng giá quá mức hay tăng giá bất hợp lý gặp nhiều khó khăn do thiếu sự phối hợp của cơ quan quản lý giá và hậu kiểm.

Liên quan đến vấn đề này, trong phần trả lời chất vấn, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho biết, có thể có hai tình huống xảy ra. Thứ nhất, bản thân doanh nghiệp khi sản xuất hàng hóa đăng ký chất lượng với cơ quan Nhà nước nhưng mẫu họ đăng ký chất lượng và sản phẩm thực tế khi họ sản xuất không giống nhau. Thứ hai, có tình trạng DN lưu thông sản phẩm hàng hóa của mình có thể do quản lý thị trường phát hiện những sản phẩm không đạt yêu cầu, nếu sản phẩm đó lấy mẫu đem kiểm nghiệm tại các trung tâm kỹ thuật, thì mẫu ấy với sản phẩm gốc sản xuất cũng không giống nhau.

Về dự án Thủy điện 6, 6A: Thẩm quyền của Quốc hội

Mô tả sự chờ đợi như trong “vô vọng” trước thực trạng 2 dự án thủy điện ở Đồng Nai, ĐB Trương Văn Vở hỏi thẳng Bộ trưởng có đồng ý loại khỏi quy hoạch những dự án này không.

Việc phát triển thủy điện khiến nhiều diện tích rừng đặc dụng, rừng nguyên sinh phải hi sinh, trong đó nổi lên 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A là vấn đề ĐB Trương Văn Vở “xoay” Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát trong phiên chất vấn tại Quốc hội chiều 12/6.

Theo ĐB, thời gian qua cử tri rất bức xúc trước việc chuyển mục đích rừng để xây dựng dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A với diện tích trên 370 ha, trong đó có gần 140 ha vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên.

Dù từng đề nghị với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các bộ ngành liên quan xem xét dừng dự án và loại khỏi quy hoạch đối với 2 dự án này, nhưng như ông nói, đến nay “vẫn chờ đợi trong vô vọng”.

Dẫn Nghị quyết TƯ Đảng lần thứ 6 khóa 11 xác định, kiên quyết giữ diện tích đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, ĐB Vở muốn chất vấn trách nhiệm của Bộ trưởng NNPTNT. “Một lần nữa đề nghị Bộ trưởng cho biết giải pháp và trách nhiệm của Bộ trưởng như thế nào trong vấn đề này. Để bảo vệ rừng nguyên sinh, Bộ trưởng có đồng ý với cử tri loại khỏi quy hoạch 2 dự án này không?”, ĐB tỉnh Đồng Nai hỏi thẳng.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hay, ông đã “vào tận nơi” để kiểm tra về tình trạng rừng khi xây dựng thủy điện 6-6A. "Quan điểm của tôi là nên hạn chế lấy rừng ở những nơi đã được quy hoạch làm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở những nơi xung yếu vì lợi ích xã hội" – ông phát biểu.

Ông cũng cho rằng, trong trường hợp thực sự cần thiết thì “phải thực hiện theo quy định của pháp luật”. “Về thẩm quyền, chúng tôi có trách nhiệm kiểm tra, báo cáo với Chính phủ để Chính phủ báo cáo với Quốc hội thực trạng các rừng đó như thế nào. Nếu lấy 357 ha, bao gồm 137 ha của rừng quốc gia Cát Tiên, thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến Vườn quốc gia Cát Tiên? Chúng tôi đã báo cáo với Chính phủ, trên cơ sở đó, Bộ Tài nguyên Môi trường tổng hợp để có đánh giá tác động môi trường của hai công trình này” – Bộ trưởng giải trình cơ chế liên trách nhiệm, không chỉ riêng Bộ Nông nghiệp.

Bộ trưởng Phát cũng cho biết, trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài nguyên Môi trường, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội theo Nghị quyết 49, vì công trình này sử dụng trên 50 ha đất rừng của vườn quốc gia. “Nên về mặt chủ trương, có làm hay không là thuộc thẩm quyền của Quốc hội”, ông Phát lý giải.

“Chia lửa” với Bộ trưởng Phát, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cho biết, hiện nay các dự án này đang được Bộ Tài nguyên Môi trường đánh giá tác động môi trường.

“Chúng tôi khẳng định, nếu tác động xấu đến môi trường, trong đó có ảnh hưởng lớn đến Vườn quốc gia Cát Tiên thì chắc chắn Chính phủ sẽ tính và xem xét” - ông Hoàng nói.

 HÀ TỔNG HỢP

Lượt xem: 332

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.