Quốc hội thảo luận tại tổ về Dự án Luật Cảnh vệ và Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

Các đại biểu Quốc hội còn có nhiều ý kiến khác nhau về quy định bổ sung dao có tính sát thương cao vào nhóm vũ khí thô sơ.

Chiều 24/5/2024, Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ và dự án Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sửa đổi).


Đại biểu Quốc hội Lê Nhật Thành phát biểu thảo luận

Đối với việc bổ sung dao có tính sát thương cao vào nhóm vũ khí thô sơ, khi sử dụng có mục đích gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, đại biểu Lê Nhật Thành (Đoàn Hà Nội) đồng tình và cho rằng, quy định như vậy để có căn cứ xử lý tội phạm sử dụng dao có tính sát thương cao gây án.

Đại biểu Lê Nhật Thành dẫn báo cáo của Bộ Công an cho biết, trong 5 năm qua, toàn quốc đã phát hiện, bắt giữ trên 16 nghìn vụ, 26 nghìn đối tượng sử dụng các loại dao và công cụ, phương tiện tương tự dao để gây án.

“Như vậy, tội phạm sử dụng các loại dao và phương tiện có khả năng gây sát thương tương tự dao gây án chiếm tỷ lệ rất cao. Trong đó, nhiều vụ do các băng, nhóm đối tượng có tổ chức gây án với tính chất rất manh động, dã man, coi thường pháp luật, nhiều vụ gây bức xúc dư luận xã hội, hoang mang, lo lắng trong nhân dân”, đại biểu nói.


Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hải Trung (Đoàn Hà Nội) phát biểu thảo luận

Phát biểu thảo luận tại tổ, đại biểu Nguyễn Hải Trung (Đoàn Hà Nội) cho rằng, về xác định dao là vũ khí thô sơ, ngay ở Hà Nội cũng có nhiều ví dụ điển hình.

“Cứ vào ngày cuối tuần, ngày lễ, ở các khu vực cửa ngõ Thủ đô, kể cả các tỉnh lân cận, nhiều đối tượng 15-16 tuổi “rú ga, nẹt pô mang theo dao, kiếm, dao phóng lợn, kéo lê trên đường… Lực lượng chức năng rất khó xử lý, cùng lắm xử tội gây rối trật tự, với điều kiện là phải xử phạt vi phạm hành chính rồi. Nếu chúng ta bổ sung như dự thảo Luật lần này thì sẽ xử lý được tội khác với các đối tượng ở độ tuổi đó”, Trung tướng Nguyễn Hải Trung phân tích.

Đại biểu đồng tình với các đại biểu Quốc hội, việc bổ sung dao vào dự thảo Luật này cần giải quyết theo tính năng, động cơ, mục đích. Việc bổ sung quy định này vào luật giúp xử lý được hành vi, đồng thời cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa rất lớn.

Cùng quan tâm về quy định nêu trên, đại biểu Tráng A Tủa (Đoàn Điện Biên) cho rằng, cần phân định cụ thể: Dao có tính sát thương cao là vũ khí thô sơ thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành; dao có tính sát thương cao được sử dụng với mục đích sinh hoạt thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này.

Còn đại biểu Nguyễn Việt Thắng (Đoàn Kiên Giang) đề nghị đánh giá tác động kỹ lưỡng và quy định chặt chẽ hơn nội dung này để tránh gây xáo trộn, khó khăn trong đời sống, sinh hoạt cũng như sản xuất thường ngày của người dân và để bảo đảm tính khả thi khi triển khai thực hiện luật trong cuộc sống.

Bởi theo đại biểu, thực tế rất khó xác định khi nào thì dao được xem là vũ khí. “Đôi khi, dao đang là vật dụng hằng ngày sử dụng vào mục đích lao động, sản xuất, sinh hoạt của người dân, nhưng khi dao được sử dụng để gây án thì nó được xem là vũ khí mang tính sát thương cao”, đại biểu nói.

Về việc khai báo vũ khí thô sơ, theo đại biểu Vương Quốc Thắng (Đoàn Quảng Nam), cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc quy định về việc khai báo khi có nhu cầu sử dụng vũ khí thô sơ làm hiện vật để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo... Đại biểu cho rằng, theo quy định hiện hành của dự thảo Luật, phạm vi của vũ khí thô sơ rất rộng và rất khó để phân định với các công cụ, phương tiện sinh hoạt, sản xuất hằng ngày nhưng có tính sát thương cao. Bên cạnh đó, vũ khí thô sơ là những loại vũ khí, công cụ, phương tiện có cấu tạo, nguyên lý hoạt động rất đơn giản, vì vậy, việc kê khai nếu được tiến hành trên thực tế sẽ chủ yếu là kiểm kê về số lượng.

“Do vậy theo tôi, cơ quan chủ trì soạn thảo cần làm rõ mục đích của hoạt động khai báo và phạm vi vũ khí thô sơ cần phải khai báo. Tôi cho rằng, việc xử lý vi phạm trong sử dụng vũ khí thô sơ đã được quy định tại Bộ luật Hình sự và với phạm vi rộng như quy định dự thảo Luật thì cần giới hạn phạm vi cụ thể, không nhất thiết phải bắt buộc khai báo toàn bộ vũ khí thô sơ”, đại biểu Vương Quốc Thắng nói.

Thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ, các đại biểu Quốc hội nhận định, việc xây dựng và ban hành Luật là hết sức cần thiết nhằm thể chế hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng; tiếp tục cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân; khắc phục những bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn công tác cảnh vệ thời gian qua, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác cảnh vệ trong tình hình mới.

Lượt xem: 700

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.