Chất vấn Bộ trưởng Bộ LĐ,TB&XH: Đầu tư đào tạo nhiều, lao động nghề vẫn thiếu

Phần lớn câu hỏi của ĐBQH chất vấn Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền xoay quanh các nút thắt liên quan cơ chế thực hiện. Bởi trong chiến lược nguồn nhân lực, lao động tay nghề là một mảng quan trọng, được chú trọng đầu tư không ít cả về cơ sở hạ tầng, chính sách điều chỉnh đáp ứng thực tiễn. Nhưng thực hiện đến nay vẫn chưa có hiệu quả đột phá.

Đầu tư không ít, chính sách không thiếu, song lao động nghề vẫn không hiệu quả khi chưa đáp ứng nhu cầu thị trường nhân lực, cả về số lượng và chất lượng.

Đó là nội dung toát lên trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn Bộ trưởng Lao động - Thương Binh - Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền chiều 13/6.

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền

Phần lớn câu hỏi của ĐBQH chất vấn Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền xoay quanh các nút thắt liên quan cơ chế thực hiện. Bởi trong chiến lược nguồn nhân lực, lao động tay nghề là một mảng quan trọng, được chú trọng đầu tư không ít cả về cơ sở hạ tầng, chính sách điều chỉnh đáp ứng thực tiễn. Nhưng thực hiện đến nay vẫn chưa có hiệu quả đột phá.

Đầu tư chưa đồng bộ

ĐB Trần Quốc Tuấn (Trà Vinh) chỉ ra nghịch lý đầu tư nhiều, chương trình đào tạo, thiết bị trang bị sẵn có, nhưng có nơi "có trường, có thầy" mà "thiếu trò". Chưa kể, tay nghề học viên sau đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động. Từ đó dẫn đến thực trạng "học xong phải đào tạo lại".

ĐB Nguyễn Thành Tâm cho hay trong đào tạo nghề hiện nay có sự "trùng dẫm" đó là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội. Ở cấp huyện địa phương có thực trạng tồn tại những trường trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng chuyên nghiệp, cao đẳng nghề mà mô hình giảng dạy giống nhau. ĐB cho rằng đầu tư như vậy "phân tán" trong khi người học không nhiều.

Trả lời chất vấn, Bộ trưởng cho hay, số trường dạy nghề trong toàn quốc trên 1000 đơn vị, trong đó trường công lập trên 800, ngoài công lập tư thục trên 400 cơ sở, doanh nghiệp trên 70.

Tuy nhiên, khi đi kiểm tra 10 tỉnh vừa qua, có một số địa có thực trạng, 1 số trường được đầu tư hạ tầng xong nhưng thiếu người giảng dạy. "Đầu tư chưa đồng bộ khiến ảnh hưởng đến khai thác" - bà cho hay.

Bà cũng chỉ ra một trong những trở ngại đặc thù từ phía xã hội. Đó là nhận thức phân luồng sau học phổ thông với phần đông hướng tới chọn vào trung cấp chuyên nghiệp cho đến Đại học. "Tư tưởng học nghề chưa thông suốt trong phụ huynh, học sinh nên tỷ lệ vào trường nghề chưa nhiều" - bà nhấn mạnh.

Bộ trưởng cũng thừa nhận thực trạng các cơ sở đào tạo nghề hiện nay chưa đáp ứng đúng, trúng nhu cầu của doanh nghiệp tuyển dụng, thị trường nhân lực. Kỹ năng, nghề doanh nghiệp cần thì trường không đào tạo. Và ngược lại. Vậy nên, doanh nghiệp đã phải tự chủ động đào tạo lại, cắt một phần chi phí doanh thu để phục vụ cho đào tạo lao động.

Tuy nhiên, bà cũng cho hay, thực trạng trên đang dần được khắc phục. Bằng chứng đã có những cơ sở đào tạo nghề như Cao đẳng nghề 3 của Quân khu 3 ở Hải Phòng đã đào tạo bám theo nhu cầu doanh nghiệp địa phương.

"Một số địa phương tôi đi kiểm tra đã thực hiện không đào tạo theo cái mình có, mà đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động. Các cơ sở đào tạo hình thành bộ phận tư vấn, tiếp thị, để nắm định hướng thị trường tư vấn cho trường nhu cầu dạy nghề cho doanh nghiệp" - bà cho biết thêm.

Nhận trách nhiệm về Bộ, Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền khẳng định, trong vai trò tham mưu, Bộ sẽ có trách nhiệm hướng dẫn triển khai, kiểm tra, nhắc nhở các địa phương trong công tác dạy nghề trên cơ sở đáp ứng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, thị trường nhân lực.

Xuất khẩu lao động ở huyện nghèo

ĐB Lý Kiều Vân chất vấn Bộ trưởng Lao động thực hiện thí điểm “xuất khẩu” lao động ở 62 huyện nghèo trên cả nước ra. Chỉ tiêu đề ra đến nay vẫn chưa đạt khi mới chỉ xuất khẩu khoảng 10 nghìn lao động.

Trong khi đó hiện có nhiều lao động đã hoàn thành xong đào tạo, cầm chứng chỉ trên tay nhưng chưa thể xuất cảnh đi làm việc. Tiền vay nợ ngân hàng không thể trả giờ trở thành "con nợ". Ngược lại, những người từng đi lao động thì lại trở về sớm trước thời hạn.

Đại biểu Lý Kiều Vân chất vấn

Lý giải tình trạng tắc này, Bộ trưởng Chuyền cho hay, qua tìm hiểu đối tượng lao động trở về trước thời hạn, vấn đề đặt ra đó là khả năng thích ứng môi trường lao động.

"1 số lao động về trước thời hạn. Có thực trạng này. Qua tìm hiểu, quả tình số lao động ở huyện nghèo, vùng sâu, xa thì ý thức, phong cách lao động, chịu đựng chưa được như lao động ở nơi khác. Đã sang lao động ở nước ngoài là lao đông thực sự nghiêm túc. Một số lao động không chịu được quy định ngặt nghèo đã bỏ về"- bà cho biết.

Trả lời cho câu hỏi có khả năng đạt mục tiêu đề ra không, bà nhấn mạnh yếu tố "thời gian". Trên cơ sở biết "điểm yếu", Bộ sẽ chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà lại tình hình thực hiện quyết định 71 đưa lao động hộ nghèo đi lao động ở nước ngoài để có giải pháp.

Một trong những chất vấn có dính đến yếu tố nước ngoài đó là quản lý lao động ở các vùng biên giới giáp ranh Việt Nam. ĐB Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) chất vấn đề lời hứa của Bộ trưởng liên quan giải quyết vấn đề này từ kỳ họp thứ hai nhằm đảm bảo bảo vệ quyền lợi cho người Việt Nam khi sang lao động ở vùng giáp ranh và ngược lại.

Bà cho hay "lo" cho vấn đề này vì không chỉ chuyện quyền lợi, việc làm của người lao động mà để đảm bảo tính mạng. Bộ sẽ kiến nghị Thủ tướng để phối hợp cùng các bộ, ngành liên quan, đặc biệt biên phòng, công an để tìm ra hướng quản lý tốt hơn.

Linh Thư - ảnh: Minh Thăng/vietnamnet

Lượt xem: 389

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.