Cho ý kiến về dự án Luật Quy hoạch: Hướng tới sự cải cách toàn diện về công tác quy hoạch

Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đề nghị Cơ quan soạn thảo cần đưa ra phương án chọn cụ thể đối với 9 Điều có 2 phương án; đề nghị bổ sung việc đảm bảo an ninh, quốc phòng trong nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch- quy định tại Điều 4 Dự thảo luật; bổ sung thẩm quyền của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc giám sát quy hoạch...

Tiếp tục chương trình làm việc phiên họp thứ 3, sáng 16/9, tại Phòng họp Tân Trào- Nhà Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến về dự án Luật quy hoạch. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều khiển phiên họp.

 

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh phát biểu tại phiên họp

Trình bày Báo cáo về dự án Luật quy hoạch, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông nêu rõ, sau 30 năm đổi mới, quy hoạch được lập quá nhiều nhưng chất lượng quy hoạch thấp, quy hoạch không gắn với nhu cầu sử dụng cũng như nguồn lực thực hiện và thiếu tính khả thi gây lãng phí nguồn lực của đất nước; thiếu gắn kết, không thống nhất và còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quy hoạch; chưa thể hiện được vị trí, vai trò là công cụ của nhà nước để điều hành phát triển kinh tế- xã hội và sự kết nối giữa chiến lược với kế hoạch dẫn đến sự thiếu gắn kết trong mục tiêu, định hướng phát triển và giải pháp thực hiện. Phương pháp và nội dung quy hoạch chưa đổi mới cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch bị buông lỏng, chưa xử lý kịp thời và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo điều hành.

Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế, yếu kém của công tác quy hoạch là tư duy và nhận thức của các cấp, các ngành về quy hoạch còn nhiều bất cập. Việc ban hành quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về công tác quy hoạch, nhưng không thống nhất, thiếu đồng bộ và còn nhiều chống chéo, mâu thuẫn nhau.

Vì vậy, việc ban hành Luật quy hoạch là cần thiết và cấp bách nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém. Đồng thời, Luật hướng tới sự cải cách toàn diện về công tác quy hoạch để quy hoạch thực sự là công cụ quan trọng, hữu hiệu giúp Nhà nước kiến tạo sự phát triển. Luật quy hoạch cũng sẽ là giải pháp quan trọng để đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về bố cục, dự thảo Luật quy hoạch gồm 8 chương với 69 điều, cụ thể: Chương I: Quy định chung, gồm 10 điều; Chương II: Hệ thống quy hoạch, gồm 2 điều; Chương III: Lập quy hoạch, gồm 12 điều; Chương IV: Thẩm định và phê duyệt quy hoạch, gồm 8 điều; Chương V: Điều chỉnh quy hoạch, gồm 4 điều; Chương VI: Quản lý thực hiện quy hoạch, gồm 26 điều; Chương VII: Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, gồm 5 điều; Chương VIII: Điều khoản thi hành, gồm 2 điều.

Thay mặt Ủy ban Kinh tế của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Vũ Hồng Thanh cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết ban hành Luật quy hoạch nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém, tùy tiện trong công tác quy hoạch cũng như các nguyên nhân chính như đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ.

Về phạm vi điều chỉnh, có ý kiến đề nghị phạm vi điều chỉnh của Luật quy hoạch nên tập trung vào những vấn đề về quy hoạch chưa được luật hóa; các loại quy hoạch; các nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt có tính chất cơ bản, cốt lõi của công tác quy hoạch; các quy định phối hợp giữa các bên liên quan trong quá trình lập và thực hiện các loại quy hoạch.

Về những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục bổ sung các nguyên tắc dân chủ, khách quan trong hoạt động quy hoạch; bảo đảm tính kế thừa, tính dự báo; tính liên kết đồng bộ giữa kinh tế - xã hội và môi trường, giữa ngành và địa phương; bảo đảm tính ổn định, lâu dài của quy hoạch.

Về hệ thống quy hoạch, đa số ý kiến Thường trực Ủy ban Kinh tế nhất trí lựa chọn Phương án 2 trong Dự thảo luật do Quy hoạch tổng thể quốc gia được lập theo phương pháp tích hợp, đa ngành, mang tính định hướng, dự báo và phát triển bền vững, tính pháp lý cao của quy hoạch tổng thể quốc gia, là bước cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội trên toàn bộ không gian lãnh thổ cả nước và là cầu nối giữa chiến lược với kế hoạch. Tuy nhiên, cũng có ý kiến khác cho rằng nước ta chưa có năng lực lập và thực hiện Quy hoạch tổng thể quốc gia, do vậy, cần nghiên cứu kỹ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt chú ý các nước trong Cộng đồng ASEAN để bảo đảm tính hội nhập của pháp luật về quy hoạch và công tác quy hoạch của nước ta.

Về mối quan hệ giữa các loại quy hoạch, có ý kiến cho rằng dự án Luật quy hoạch quy định hệ thống quy hoạch có nhiều cấp, do vậy cần quy định rõ thế nào là quy hoạch cấp trên, quy hoạch cấp dưới. Cần làm rõ quy hoạch cấp dưới chỉ tuân thủ quy hoạch cấp trên trực tiếp hay là cả cấp trên cao hơn nữa. Ý kiến khác đề nghị quy định rõ trong quan hệ giữa các quy hoạch cùng cấp thì quy hoạch nào sẽ có giá trị hơn và việc tích hợp quy hoạch này có bắt buộc điều chỉnh quy hoạch cùng cấp có liên quan không. Có ý kiến đề nghị cần quy định theo hướng quy hoạch cấp dưới phải tuân thủ quy hoạch cấp cao hơn, quy hoạch cấp cao là cơ sở để lập, nghiên cứu quy hoạch cấp dưới trực tiếp.

Thảo luận tại phiên họp, các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội đều nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật quy hoạch, tuy nhiên cho rằng, đây là một luật khó.

Luật quy hoạch nên mang tính định hướng

Nhận định đây là Dự án luật đồ sộ, cần thiết phải có để khắc phục những bất cập về mặt thể chế, tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, đây là luật hình thức, tức là không thể thay thế cho tất cả các luật chuyên ngành. Các vấn đề cụ thể về nội dung như quy hoạch đất đai, quy hoạch bảo vệ môi trường, khoáng sản… sẽ do các luật chuyên ngành quy định. Do đó, Luật quy hoạch ra đời nên theo hướng để lập lại trật tự, kỷ cương và bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, hiệu quả hơn trong quy trình, việc “đi vào nội dung thì rất khó”.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng cũng nhận định, đây là luật khung, vì vậy chỉ nên mang tính chất định hướng, không quy định trực tiếp vào các luật khác. Trong phạm vi điều chỉnh, luật chỉ nên thể hiện tính chất định hướng, lý luận, trên cơ sở đó, các luật chuyên ngành sẽ phải “theo đường ray này mà làm”. Đồng thời phải có lộ trình khi ban hành Luật quy hoạch để tất cả các luật khác, các lĩnh vực, các ngành không bị phá vỡ và không bị ảnh hưởng.

Đồng tình với quan điểm trên, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cho rằng, nên chuyển các vấn đề cụ thể của luật này sang các luật chuyên ngành, tuy nhiên vẫn đảm bảo việc thống nhất quản lý về quy trình, quy phạm, hình thức ban hành, quyết định, phê duyệt, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm nếu vi phạm quy hoạch. Vì vậy, nên thay đổi luật này theo hướng là luật hình thức, nếu giống các luật chuyên ngành sẽ “bị sa lầy”.

Đánh giá việc xây dựng và ban hành Luật quy hoạch là “rất mới, tư duy rất mới”, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định cho rằng, luật này cần phải xử lý một cách thận trọng để đảm bảo các quy hoạch đã được đề cập trong các luật khác mà đã được thực hiện ổn định thì phải tiếp tục tôn trọng. Những gì mà các luật khác quy định thấy bất hợp lý thì luật này điều chỉnh. Tuy nhiên, theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, Luật quy hoạch không hẳn là luật khung bởi vì cũng phải quy định những điều, khoản cụ thể, “nếu chỉ khung không thì không ổn, mà chỉ hình thức không thì cũng không phải, vẫn có nội dung của nó”.

Quy hoạch bắt buộc phải gắn với chiến lược phát triển, gắn với Nghị quyết của Đảng

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Phan Thanh Bình, quy hoạch bắt buộc phải gắn với chiến lược phát triển, gắn với Nghị quyết của Đảng. Làm quy hoạch phải từ trên xuống, chiến lược và nghị quyết của Đảng như thế nào thì chúng ta sẽ quy hoạch như thế, tuy nhiên cần kết hợp với việc lắng nghe ý kiến từ các cấp... Thực trạng hiện nay cho thấy, ở các địa phương sự nối kết kinh tế vùng cực khó vì chúng ta đi từ dưới lên, mỗi một vùng xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển của tỉnh mình, đến khi ráp nối lại khu vực thì các ngành kinh tế cũng giống nhau. Ví dụ giáo dục có hiện tượng là cách dòng sông bên kia là một địa phương khác thì bên này rất phát triển, bên kia thì khó khăn, học sinh bên kia qua bên này sông học là không được vì sang địa phương khác. Có hiện tượng đó vì quy hoạch không đi từ trên xuống. Do đó, về hệ thống quy hoạch phải đi trên quan điểm chiến lược, đi từ trên xuống và lắng nghe từ dưới lên.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, về quy hoạch ngành quốc gia hiện nay đã được quy định trong các luật chuyên ngành rất cụ thể, tuy nhiên trình tự, thủ tục, lập, phê duyệt nên được quy định cụ thể vào trong Luật này. Đây như một “cái khung để trên cơ sở đó khi thực hiện luật chuyên ngành các bộ, các ngành cứ theo thế mà làm”. Đồng thời,  cũng cần thống nhất thẩm quyền trong việc phê duyệt quy hoạch ngành quốc gia của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng.

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu cho rằng, trong số các loại quy hoạch trong quy hoạch tổng thể quốc gia, khái niệm về quy hoạch nông thôn nêu ra chưa rõ so với Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020; chưa làm rõ các vấn đề mới, đặc biệt là quy hoạch vùng… Do đó, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Giàu cho rằng, có thể tham khảo thực tiễn hoặc kinh nghiệm một số nước để tạo hành lang pháp lý trong việc quy hoạch vùng, bởi theo quy định như hiện nay là “rất chung, không làm nổi”.

Về nội dung quy hoạch ngành quốc gia, tại khoản 4 Điều 21, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Giàu nhận định, nếu giao các Bộ hướng dẫn chi tiết nội dung quy hoạch ngành quốc gia như trong Dự thảo luật sẽ dẫn đến tình trạng “khó thực hiện”, bởi “nếu dựng được khung thì giao cho Chính phủ hoặc bộ được, còn bây giờ giao chi tiết thì rất mênh mông… rất phức tạp”.

 

Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ phát biểu tại phiên họp

Bên cạnh các nội dung trên, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đề nghị Cơ quan soạn thảo cần đưa ra phương án chọn cụ thể đối với 9 Điều có 2 phương án; đề nghị bổ sung việc đảm bảo an ninh, quốc phòng trong nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch- quy định tại Điều 4 Dự thảo luật; bổ sung thẩm quyền của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc giám sát quy hoạch.

Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đề nghị làm rõ khái niệm về quy hoạch. Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải đề nghị bên cạnh những mặt tốt, ưu điểm, cần có phân tích những mặt hạn chế, rủi ro khi Luật quy hoạch được ban hành. Một số đại biểu khác đề nghị rà soát lại đầy đủ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng liên quan đến phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh, sự thống nhất của pháp luật, tránh sự xung đột và chồng chéo khi xây dựng Luật; đánh giá lại tính khả thi của dự án luật; cụ thể hóa một số quy định còn chung chung…

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Cơ quan soạn thảo, Ủy ban thẩm tra tiếp thu các ý kiến của đại biểu để bổ sung, hoàn thiện và trình ra Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét tại phiên họp tiếp theo trước khi trình ra Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV sắp tới.

Quang Minh/quochoi.vn

Lượt xem: 461

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.