ĐBQH Hà Nội thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phẩn hóa doanh nghiệp Nhà nước

Sáng 28/5 Quốc hội thảo luận tại hội trường về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phẩn hóa doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2011-2016. Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội có 3 đại biểu phát biểu: Đại biểu Hoàng Văn Cường, đại biểu Lê Quân và đại biểu Nguyễn Anh Trí.

Sáng 28/5 Quốc hội thảo luận tại hội trường về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phẩn hóa doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2011-2016. Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội có 3 đại biểu phát biểu: Đại biểu Hoàng Văn Cường, đại biểu Lê Quân và đại biểu Nguyễn Anh Trí.

ĐB Hoàng Văn Cường nêu quan điểm: Chính sách đất đai đang áp dụng trong cổ phần hoá đã đi ngược nguyên lý cơ bản trong cơ chế thị trường. Chúng ta không thành công trong quản lý đất đai nên mới xảy ra tình trạng hỗn loạn.

ĐB dẫn chứng dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt vẫn đề xuất chính sách miễn tiền sử dụng đất cho các dự án có mục đích sử dụng đất từ 10 năm đến 30 năm. Đây là chính sách đi ngược lại cung cầu về đất đai.

ĐB Hoàng Văn Cường cho rằng: Ưu đãi này không giúp thu hút các nhà đầu tư có năng lực cạnh tranh mà ngược lại, có thể làm thất bại quá trình cạnh tranh lành mạnh ở các đặc khu.

Đại biểu Lê Quân cho rằng quản lý nhà nước về doanh nghiệp phải giải quyết tốt, tạo hành lang pháp lý tốt để đảm bảo tốt được quản lý trên ba phương diện: Thứ nhất, chúng ta phải quản lý tốt được dòng tiền; Thứ hai, quản lý tốt về nhân sự; Thứ ba, quản lý rủi ro tốt.

Trên phương diện quản lý dòng tiền, chúng ta chỉ có thể quản lý dòng tiền tốt dựa trên một cơ sở dữ liệu tốt, cơ sở dữ liệu cập nhật chính xác và theo thời gian thực tế. Cuối năm 2017 vừa qua, có thể thấy Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải nhắc nhở trên 200 doanh nghiệp trên tổng số 622 doanh nghiệp chậm nộp báo cáo. Nếu chúng ta quản trị doanh nghiệp, quản trị dòng tiền mà không dựa trên một cơ sở dữ liệu cập nhật và thống nhất, chính xác thì chúng ta sẽ rất khó khăn để ra các quyết định. Nếu chúng ta không xử lý tốt thì cơ chế thông tin sẽ bó, nằm khép kín thông tin giữa lãnh đạo doanh nghiệp, đội ngũ kế toán tài chính của doanh nghiệp. Hoặc sẽ bó trong đơn vị giữa cơ quan chủ quản và các doanh nghiệp. Khi đó nguy cơ hình thành các nhóm lợi ích và chúng ta sẽ khó có thể giám sát và đòi hỏi minh bạch thông tin trong quản lý nhà nước.

Về quản trị nhân sự cần phải đổi mới và triển khai nhanh nghị quyết của Trung ương khóa XII về tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý doanh nghiệp cũng như làm sao biến mỗi cái ghế lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước là một ghế nóng để làm sao chúng ta phải thu hút, đãi ngộ thật cao mới tuyển được người giỏi. Những người không có năng lực thì không dám ngồi vào đó, bởi vì các chỉ tiêu kinh doanh đưa ra rất cao và áp lực cạnh tranh, đánh giá rất minh bạch, rõ ràng, khi đó chúng ta sẽ đổi mới được công tác quản lý doanh nghiệp. Xét cho cùng người lãnh đạo doanh nghiệp là người sẽ đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp. Khi đó chúng ta minh bạch giữa vai trò của hội đồng thành viên, vai trò của ban điều hành, ban giám đốc thì chúng ta sẽ thuê được tổng giám đốc tốt, thậm chí thuê được tổng giám đốc là người nước ngoài.

Quản lý rủi ro là điểm yếu nhất của chúng ta trong thời gian vừa qua. Có thể nói chúng ta hay bị mắc một bệnh đó là lúc kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp nhiều tiền thì chúng ta đầu tư tương đối tràn lan. Chúng ta hay thích đầu tư vào những dự án mà trên thế giới người ta ngại đầu tư. Đó là những dự án có tỷ suất vốn cố định, mua sắm tài sản cố định, máy móc, trang thiết bị lớn. Như vậy, khi chu kỳ kinh tế hội nhập chúng ta thay đổi thì lập tức những dự án đó sẽ có khả năng thanh khoản kém và sẽ dễ rơi vào tình trạng những dự án chúng ta gọi là đắp chiếu. Do đó, chúng ta cần phải nhanh chóng tăng cường quản lý rủi ro của các doanh nghiệp nhà nước bằng cách chúng ta phải có nhiều giải pháp.

ĐB Nguyễn Anh Trí đặc biệt quan tâm đến hiện tượng “đầu chuột đuôi voi” của các dự án đầu tư. ĐB dẫn chứng dự án nạo vét sông Sào Khê (Ninh Bình), dự kiến ban đầu là 72 tỷ đồng nhưng sau đó lên tới gần 2.600 tỷ.

ĐB Nguyễn Ạnh Trí nhận định: Khi trả lời về những dự án chậm tiến độ, đội vốn, cán bộ thường dùng thì hiện tại tiếp diễn kéo dài, ví dụ chúng tôi đang thúc đẩy tiến độ… nhưng không biết tới bao giờ mới xong. ĐB cho rằng Thế giới khó tìm ra loại bột nở nào làm nở kinh phí đầu tư lúc đầu chỉ là con chuột nhắt, sau là con voi, mà lại là voi ma mút như vậy. Việt Nam lại có không ít những dự án tương tự, toàn là trăm tỷ, nghìn tỷ cả.

Đại biểu cho rằng, kinh tế Việt Nam khởi sắc nhưng thực tế thu không đủ bù chi, bội chi nhiều năm, tình hình chung còn nhiều khó khăn, trong đó nhiều gia đình 5 thành viên phải ăn những bữa cơm 15.000 đồng thì "vẫn có những dự án lãng phí tới cả nghìn tỷ đồng. Chính phủ cần xem thật hết, thật thấu vấn đề này”.

Lượt xem: 697

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.