Đại biểu Bùi Huyền Mai và Nguyễn Hữu Chính phát biểu thảo luận về dự án Luật Tố cáo (sửa đổi)

Đại biểu Bùi Huyền Mai bày tỏ sự nhất trí với việc sửa đổi Luật Tố cáo năm 2011 để cụ thể hóa một trong những quyền quan trọng đã được quy định tại Chương 2 của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Về hình thức tố cáo quy định tại Điều 22. Đại biểu đề nghị bỏ hình thức tố cáo bằng lời nói qua điện thoại...

Sáng 24.5, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Năm, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu, QH làm việc tại Hội trường, thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Tố cáo (sửa đổi). Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội có 2 đại biểu góp ý vào dự thảo Luật Tố cáo là: đại biểu Bùi Huyền Mai và Nguyễn Hữu Chính.

Đại biểu Bùi Huyền Mai bày tỏ sự nhất trí với việc sửa đổi Luật Tố cáo năm 2011 để cụ thể hóa một trong những quyền quan trọng đã được quy định tại Chương 2 của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 30 của Hiến pháp đã nêu: "Mọi người đều có quyền khiếu nại, tố cáo với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về những việc trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

Về hình thức tố cáo quy định tại Điều 22. Đại biểu đề nghị bỏ hình thức tố cáo bằng lời nói qua điện thoại vì những lý do sau đây:

Lý do thứ nhất, hình thức tố cáo bằng lời nói qua điện thoại thì rất khó đảm bảo với yêu cầu của tố cáo là phải đảm bảo tính chính xác của thông tin tố cáo và nội dung phải rõ ràng.

Lý do thứ hai, khi cá nhân tố cáo qua điện thoại người tiếp nhận vẫn phải hướng dẫn người tố cáo viết thành văn bản hoặc ghi nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc xác nhận. Do đó, về thực chất quy trình lại quay về tố cáo bằng văn bản.

Lý do thứ ba, việc áp dụng hình thức tố cáo bằng lời nói qua điện thoại rất mất thời gian cho quá trình xác minh danh tính người tố cáo, xác minh tính chính xác của thông tin tố cáo gây áp lực công việc cho các cơ quan trực tiếp giải quyết tố cáo. Do đó đề nghị giữ nguyên hình thức tố cáo như Luật Tố cáo hiện hành là tố cáo bằng văn bản và tố cáo trực tiếp.

Thứ hai, đối với các khoản trong Điều 2 về giải thích từ ngữ tại khoản 2 dự thảo nêu: "Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng sau đây" (liệt kê). Khoản 3 nêu: "Tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc cá nhân báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật". Nội dung này cần phải được giải thích rõ hơn để có cách hiểu thống nhất. Nếu dự thảo giải thích có thể hiểu hành vi vi phạm pháp luật trong nhiệm vụ công vụ cũng chính là hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước. Thực tế cán bộ, công chức trong lĩnh vực nào khi thực hiện nhiệm vụ công vụ cũng chính là thực hiện pháp luật có liên quan đến các vấn đề về quản lý nhà nước.

Ngoài ra đối với điểm c khoản 2 dự thảo nêu: "Người không phải là cán bộ, công chức, viên chức mà được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức" những người không phải là cán bộ, công chức sẽ không phải chịu trách nhiệm trong thực hiện công vụ mà Luật Cán bộ, công chức đã nêu. Nếu chúng ta quy định như dự thảo thì khi giải quyết tố cáo có sai phạm thì áp dụng luật nào để xử lý.

Theo Từ điển luật học, trách nhiệm công vụ là trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước phải hành động phù hợp quy định của pháp luật, lựa chọn phương án hành động tối ưu nhất, báo cáo kết quả hoạt động và gánh chịu hậu quả do không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình. Trách nhiệm công vụ là khái niệm thể hiện trên cả 2 khía cạnh tích cực. Do đó, cán bộ, công chức có nghĩa vụ phải lựa chọn phương án hành động tối ưu, hợp lý nhất. Do vậy, đề nghị bỏ điểm c khoản 2 nêu trên.

Nội dung thứ ba, tại Điều 9 quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, đề nghị tách đoạn cuối của điểm c khoản 1 thành một điểm riêng quy định người tố cáo có quyền được nhận kết luận tố cáo bằng văn bản.

Nội dung thứ tư, liên quan đến khoản 2 Điều 24 về xử lý ban đầu thông tin tố cáo, dự thảo nêu: "Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận tố cáo phải chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo", cần phải điều chỉnh khoản này để đảm bảo thống nhất ngay trong khoản 2 và phù hợp với khoản 1 Điều 2 về giải thích từ ngữ trong dự thảo, đó là "tố cáo là việc cá nhân theo quy định của luật này phải báo cho cơ quan, tổ chức". Như vậy, đại biểu đề nghị phải chuyển, trả tố cáo cho người tố cáo kèm theo hướng dẫn để người tố cáo căn cứ vào đó gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Đại biểu Nguyễn Hữu Chính cho rằng hình thức tố cáo đề nghị giữ nguyên như Luật Tố cáo hiện hành.

Điều 23 về tiếp nhận tố cáo, Điều 25 tiếp nhận xử lý thông tin tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc sử dụng tên của người khác để tố cáo. Trong dự thảo luật quy định rất chặt chẽ việc xử lý ban đầu thông tin tố cáo, đảm bảo dù tố cáo được thực hiện dưới hình thức nào thì giai đoạn xử lý ban đầu thông tin tố cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải xác nhận rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, nội dung tố cáo từ đó làm căn cứ để thụ lý vụ việc. Do vậy, ngoài hình thức tố cáo truyền thống là bằng đơn và trực tiếp thì việc mở rộng hình thức tố cáo quá fax, thư điện tử, điện thoại là cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo. Tuy nhiên, nếu quan điểm này được chấp nhận tại Điều 22 hình thức tố cáo trong dự thảo luật mới quy định hình thức tố cáo bằng việc trình bày lời nói qua điện thoại, chưa quy định hình thức nhắn tin, nội dung tố cáo qua điện thoại, trong khi hình thức này rất phổ biến và thường gặp trên thực tế. Do vậy, nếu chấp nhận quan điểm thứ hai thì bổ sung thêm hình thức tố cáo bằng tin nhắn qua điện thoại cho phù hợp với thực tế cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được quyền tự do tố cáo.

Thứ hai, việc rút tố cáo theo Điều 33 dự thảo, so với dự thảo trước thì dự thảo này quy định tương đối chặt chẽ việc rút tố cáo, theo đó trước khi người giải quyết tố cáo ban hành kết luận nội dung tố cáo thì người tố cáo có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung tố cáo. Quy định như vậy là phù hợp thực tiễn, đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm vừa xử lý những người lợi dụng tố cáo vu khống, bôi nhọ danh dự người khác. Tuy nhiên, dự thảo lần này mới quy định hậu quả pháp lý với trường hợp người tố cáo rút toàn bộ tố cáo mà chưa quy định trường hợp người tố cáo rút một phần tố cáo, hay nhiều người tố cáo về một nội dung trong đó có người rút tố cáo, có người không rút tố cáo. Đề nghị trường hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì người giải quyết tố cáo không xem xét phần nội dung tố cáo được rút trừ trường hợp người giải quyết tố cáo thấy có nội dung tố cáo bị rút có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Trường hợp nhiều người tố cáo về nội dung trong đó có người rút tố cáo, người không rút tố cáo thì nội dung tố cáo vẫn được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Về đối tượng áp dụng pháp luật, dự thảo chưa quy định về đối tượng áp dụng dẫn đến việc hiểu và khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Ví dụ, luật chỉ áp dụng với người tố cáo là công dân Việt Nam còn người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam hoặc người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài giải quyết như thế nào. Mặt khác, dự thảo luật chủ thể tố cáo là cá nhân, như vậy việc tố cáo cơ quan tổ chức không được điều chỉnh theo quy định của luật này. Nhưng tại Điều 26 của dự thảo lại quy định về việc tiếp nhận xử lý tố cáo từ cơ quan báo chí chuyển đến. Như vậy, vẫn tồn tại sự không đồng nhất trong việc xác định chủ thể tố cáo, trong các chính sách, quyết định của pháp luật tố cáo. Trong thực tế, cơ quan báo chí có vai trò rất quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, vi phạm pháp luật, do vậy để tạo sự thống nhất trong quy định của pháp luật và tạo điều kiện cho việc thực hiện tố cáo, đề nghị mở rộng chủ thể tố cáo sang cả cơ quan, tổ chức.

Lượt xem: 692

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.