Đại biểu Hoàng Văn Cường phát biểu thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung các Luật liên quan đến quy hoạch

Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của Luật Quy hoạch là tích hợp các quy hoạch rời rạc thành quy hoạch thống nhất, mang tính định hướng chung, thống nhất để tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các loại quy hoạch khác nhau.

Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của Luật Quy hoạch là tích hợp các quy hoạch rời rạc thành quy hoạch thống nhất, mang tính định hướng chung, thống nhất để tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các loại quy hoạch khác nhau. 

Tiếp tục chương trình làm việc tạ kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung các Luật có quy định liên quan đến quy hoạch. Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường thể hiện sự đồng tình và thống nhất cao với 4 nguyên tắc trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và nhất trí với quy định của Dự thảo Luật bên cạnh quy hoạch chung phải có quy hoạch ngành và các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành.

Nguyên tắc lấy quy hoạch làm gốc và các luật khác có liên quan thì sửa đổi cho phù hợp với Luật Quy hoạch; Các luật khác không quy định lại, không quy định trái với Luật Quy hoạch và bãi bỏ các quy hoạch về đầu tư, phát triển hàng hóa, dịch vụ, ấn định sản phẩm; Cùng cấp không quy hoạch cùng một nội dung, các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành thì cụ thể hóa nội dung của quy hoạch quốc gia, quy hoạch tỉnh, quy hoạch vùng; Không bổ sung thêm những quy hoạch mới.

Đại biểu Hoàng Văn Cường phát biểu (Ảnh: Quochoi.vn)

Đại biểu nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của Luật Quy hoạch là tích hợp các quy hoạch rời rạc thành quy hoạch thống nhất, mang tính định hướng chung, thống nhất để tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các loại quy hoạch khác nhau. Để đạt được mục tiêu đó của Luật Quy hoạch thì phương án lý tưởng nhất là thực hiện tích hợp tất cả các nội dung cần quy hoạch thành một bản quy hoạch duy nhất. Trên đó, thể hiện đầy đủ các định hướng chiến lược phát triển dài hạn vào các mô hình, các phân kỳ cho từng giai đoạn. Đồng thời, thể hiện chi tiết đầy đủ các yếu tố kỹ thuật của từng chuyên ngành ứng với từng mô hình cũng như từng giai đoạn phát triển. Như vậy, chỉ cần một bản quy hoạch duy nhất không cần phải có đến các quy hoạch chuyên ngành hay quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành khác.

Tuy nhiên, bên cạnh quy hoạch chung vẫn phải có quy hoạch ngành và các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành như dự thảo Luật quy định, để đơn giản phải thực hiện tách riêng từng thông tin riêng biệt, đặc trưng và thể hiện chi tiết từng lớp yếu tố đó thành từng yếu tố chuyên ngành kỹ thuật, đó là sản phẩm của quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành thành các phần quy hoạch riêng. Tuy tách riêng ra từng lớp thông tin thành các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành, nhưng yêu cầu về tích hợp thì phải đảm bảo khi chồng các lớp thông tin này lên nhau thì các phương án quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành không được phép trái cho với quy hoạch chung, tất cả phải trùng khớp với nhau và không được sai lệch, không được mâu thuẫn. Đó cũng là lý do không thể có một quy hoạch chung mà vẫn phải có các quy hoạch ngành và các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành nhưng đồng thời phải đảm bảo tính tích hợp thống nhất như Luật Quy hoạch quy định.

Vấn đề đặt ra là có một sự khác biệt giữa tờ trình của Chính phủ với bản thẩm tra của Ủy ban Kinh tế có ý kiến khác nhau là có nên có quy hoạch xây dựng tỉnh riêng bên cạnh quy hoạch tỉnh không, hay là gộp nội dung này vào trong quy hoạch tỉnh? Về mặt lý thuyết có thể gộp tất cả các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành vào nội dung quy hoạch chung. Tuy nhiên, quy hoạch xây dựng này cũng là một dạng của quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành và có những biểu diễn riêng về mặt đặc tính kỹ thuật.

Đại biểu đề nghị nên để quy hoạch xây dựng tỉnh như là một quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành riêng để chi tiết hóa những nội dung phát triển không gian của quy hoạch tỉnh. Vì quy hoạch chính là một công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về định hướng phát triển một lĩnh vực nào đó. Vậy, quy hoạch xây dựng tỉnh chính là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý hoạt động xây dựng quy hoạch trên không gian tỉnh để đảm bảo chi tiết hóa không gian phát triển kinh tế - xã hội của lãnh thổ. Đại biểu đồng tình với đề xuất của dự thảo đề án cũng như Tờ trình của Chính phủ nên duy trì quy hoạch xây dựng tỉnh riêng như là một dạng quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành.

Về có những ý kiến khác nhau là cần phải có những phương án quy hoạch đất đai trong quy hoạch tỉnh hay không? Đại biểu lý giải: quy hoạch chính là việc phân bổ và lựa chọn các phương án sử dụng các nguồn lực cho các mục tiêu phát triển. Trong các nguồn lực của đất nước, nguồn lực đất đai là nguồn lực rất cơ bản và hữu hạn, vì vậy luôn phải chú trọng, quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực đất đai này một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất. Do vậy, trong tất cả các phương án quy hoạch từ cấp quốc gia cho đến cấp tỉnh thì không thể không có nội dung về quy hoạch sử dụng đất như một cách lựa chọn các phương án sử dụng nguồn lực đất đai này phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Cũng có thể coi quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh như một dạng quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành. Tuy nhiên, các lớp thông tin trong quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh thì rất đơn giản và đồng nhất chứ không phức tạp như các lớp thông tin trong quy hoạch xây dựng hay quy hoạch giao thông.  Đại biểu cho rằng tờ trình của Chính phủ không nên tách riêng quy hoạch đất cấp tỉnh mà xây dựng phương án quy hoạch đất đai cấp tỉnh lồng vào nội dung quy hoạch tỉnh vì nếu không có phương án quy hoạch đất đai cấp tỉnh thì không có căn cứ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh được giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân tỉnh các cấp.

Về vấn đề một số ý kiến cho rằng trong quy hoạch đất nên bỏ chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất lúa vì cho rằng chỉ tiêu này coi như bị cấm trong Luật Quy hoạch, vì đây coi như là quy hoạch về sản phẩm. Đại biểu cho rằng không hoàn toàn phù hợp, cần phải có chỉ tiêu quy hoạch đất trồng lúa nước vì đây là tài sản quý hiếm không phải chỉ của quốc gia mà còn là tài sản quý hiếm của nhân loại theo quy định của tổ chức nông lâm Liên hợp quốc FAO. Chính vì thế cần được gìn giữ và bảo vệ.

Lượt xem: 589

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.