Đại biểu Ngọ Duy Hiểu phát biểu thảo luận về dự kiến chương trình xây dựng luật và pháp lệnh

Về chất lượng dự án luật, mặc dù nhiệm kỳ mới Đảng đã quyết liệt chỉ đạo việc thể chế hóa đường lối, chủ trương nghị quyết của Đảng thành pháp luật. Quốc hội có nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng pháp luật và Chính phủ tập trung chỉ đạo thể chế nhưng việc cải thiện tình hình này chưa nhiều, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và doanh nghiệp về phát triển trong yêu cầu mới. Chất lượng của nhiều dự án luật còn rất xa cuộc sống. Có những dự án luật mới đưa ra những dự thảo ban đầu đã nhận được sự phản đối rất quyết liệt và gay gắt từ nhân dân.

Sáng 30/5 Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2019 và điều chỉnh chương trình 2018.

Trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, đồng thời qua xem xét, cho ý kiến về các dự án trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định đưa ra khỏi chương trình 2 dự thảo Luật là Luật dân số và Luật quản lý phát triển đô thị.

Hai dự luật được đề nghị lùi thời gian trình là Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án hình sự: Dự thảo Luật Công an xã không tiếp tục xây dựng riêng mà nhập nội dung Luật này vào Luật Công an nhân dân sửa đổi . Đồng thời Bổ sung dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường.

Về dự kiến chương trình năm 2019, Chính phủ đề nghị đưa 19 dự án luật và 1 Dự thảo nghị quyết vào chương trình.

Đoàn ĐBQH Hà Nội có đại biểu Ngọ Duy Hiểu phát biểu, Đại biểu Hiểu đánh giá cao tờ trình do Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình. Đồng thời góp ý một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về chất lượng dự án luật, mặc dù nhiệm kỳ mới Đảng đã quyết liệt chỉ đạo việc thể chế hóa đường lối, chủ trương nghị quyết của Đảng thành pháp luật. Quốc hội có nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng pháp luật và Chính phủ tập trung chỉ đạo thể chế nhưng việc cải thiện tình hình này chưa nhiều, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và doanh nghiệp về phát triển trong yêu cầu mới. Chất lượng của nhiều dự án luật còn rất xa cuộc sống. Có những dự án luật mới đưa ra những dự thảo ban đầu đã nhận được sự phản đối rất quyết liệt và gay gắt từ nhân dân. Đây là vấn đề chúng ta phải hết sức quan tâm chỉ đạo trong thời gian tới để các bộ, ngành cần phải tập trung hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật.

Vấn đề thứ hai, Đó là xác định trách nhiệm và chế tài. Có thể thấy còn nhiều dự án luật chưa đảm bảo tiến độ và chất lượng còn rất hạn chế khi trình Quốc hội. Trong khi đó một số quy định của pháp luật khi được ban hành chưa đưa vào cuộc sống thì đã gặp những vướng mắc. Có những quy định khi đi vào cuộc sống thì lại cản trở sự phát triển. Có những quy định của pháp luật nếu được ban hành bằng những quy định pháp luật khác nó có thể mang lại những nguồn lực rất lớn cho đất nước cũng như giải quyết việc làm. Đây chính là những quy định pháp luật cản trở sự phát triển.

Tuy nhiên, để xác định trách nhiệm từ ai, từ cơ quan nào hiện nay chúng ta làm chưa rõ, trong khi ở khâu thực hiện thì việc này chúng ta làm khá tốt. Đó là nếu một người thực hiện quy định của pháp luật có hành vi làm trái hay thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản thì có thể người đó sẽ phải đi tù. Nhưng ở việc tham mưu ban hành chính sách cũng như việc ban hành chính sách pháp luật mà không đáp ứng yêu cầu, thậm chí cản trở sự phát triển. Mặc dù đây là những vấn đề không đong đếm được nhưng hiện nay chưa có chế tài. Đây là sự không công bằng trong tương lai chúng ta phải tìm giải pháp khắc phục và đây chính là con đường để nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật cũng như đề cao trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc tham mưu xây dựng pháp luật.

Thứ ba, về vấn đề tiếp thu và giải trình: nhiều ban soạn thảo đã tiếp thu, giải trình rất nghiêm túc ý kiến của các đại biểu Quốc hội, nhưng cũng có những ban soạn thảo giải trình, tiếp thu không đầy đủ. Chưa quan tâm đến những ý kiến cá biệt, những ý kiến còn khác nhau, đặc biệt là đối với những vấn đề lớn và những vấn đề quan trọng. Có những ý kiến dù là cá biệt nhưng trong đó cũng hàm chứa những giá trị khoa học và những chân lý mà đôi khi phải thực tiễn và thời gian mới kiểm nghiệm, mới khẳng định được tính đúng sai. Do vậy, rất mong các ban soạn thảo trước những ý kiến còn khác biệt như vậy thì cần phải giải trình đến nơi, đến chốn, dù là cá biệt.

Từ đầu kỳ họp này có rất nhiều chuyên gia phát biểu về những vấn đề, mặc dù đó là ý kiến không nhiều, không đa hàm chứa những giá trị chúng ta cũng rất quan tâm và chúng ta cần phải giải trình. Thực ra quá trình giải trình chính là quá trình tìm ra chân lý để khẳng định đâu là đúng, đâu là sai ở bước đầu về mặt lý thuyết. Cho nên vấn đề này cũng cần được các ban soạn thảo quan tâm hơn để làm cho đại biểu Quốc hội thấy thỏa đáng và được trân trọng các ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Vấn đề thứ tư là về vấn đề xây dựng Luật Công đoàn, trong các lưu ý ở đây có lưu ý là Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam quan tâm đến vấn đề xây dựng dự thảo Luật Công đoàn, có 4 vấn đề để đề xuất lùi việc xây dựng Luật Công đoàn. Trong đó, yêu cầu đầu tiên của việc xây dựng luật đó là chúng ta phải căn cứ vào yêu cầu của tình hình thi hành luật, với 5 năm thực hiện đến nay Luật Công đoàn không có vướng mắc, bất cập nào mà ở cơ quan cấp dưới đề xuất lên với Tổng Liên đoàn, chúng ta sửa luật khi chưa có vấn đề phát sinh thì là một khó khăn.

Theo kế hoạch của Đảng đoàn cũng như công văn 1099 của Ủy ban Pháp luật Quốc hội gửi cho Tổng Liên đoàn để đề xuất sửa đổi Luật Công đoàn trong đó có nêu vấn đề cần tập trung là tổ chức bộ máy. Tổ chức bộ máy hiện nay của công đoàn chỉ có quy định tại Điều 7 của Luật Công đoàn là về hệ thống tổ chức của công đoàn là 4 cấp, còn các vấn đề xung quanh bộ máy, biên chế của công đoàn lại nằm trong chính văn bản của Đảng và điều lệ của tổ chức công đoàn. Chúng ta cũng thấy là hội nông dân, thanh niên, phụ nữ cũng không có luật nhưng vẫn hoạt động bình thường vì có các văn bản của Đảng quy định về tổ chức bộ máy và điều lệ của tổ chức, nên đây là lý do thứ hai đề xuất cần phải nghiên cứu lùi.

Hiện nay, chúng ta tham gia CPTPP và trong các điều khoản chúng ta cam kết CPTPP về điều khoản lao động công đoàn, có xác định là sau 5 năm kể từ khi CPTPP có hiệu lực thì điều khoản về lao động công đoàn có hiệu lực theo đó là ở cơ sở được thành lập tổ chức khác của người lao động, hay nói cách khác là sẽ có một tổ chức công đoàn mới. Đây là vấn đề mới, nhạy cảm, chưa có tiền lệ, rất cần công đoàn cần phải có một khoảng thời gian. Đây chính là lý do mà công đoàn đã báo cáo với Chính phủ, Bộ Chính trị để trong quá trình đàm phán cho kéo dài 5 năm để chuẩn bị các điều kiện, lực lượng, nguồn lực, trải nghiệm những vấn đề thực tế để sau đó chúng ta khái quát hóa thành những quy định của pháp luật trong tương lai. Nếu chúng ta sửa luật ngay bây giờ về một vấn đề mới, nhạy cảm khi chúng ta chưa có kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm quốc tế thì đây là vấn đề có thể đặt ra thách thức trong tương lai. Do vậy, cần phải lùi thời gian. Cùng với đó chúng ta sửa Bộ luật Lao động dự kiến là năm 2019 và 2020 sẽ có hiệu lực thì khi sửa, chúng ta cũng có thêm nội dung để cụ thể hóa thể chế, thể hiện trong Luật Công đoàn. Bộ Chính trị cũng đang xem xét để có thể phê chuẩn đề án đổi mới tổ chức hoạt động công đoàn, thì khi đề án này được thông qua, sau này chúng ta sẽ sửa Luật Công đoàn trên cơ sở thể chế những vấn đề của đề án này.

Bên cạnh đó là dừng Luật Công đoàn nhưng nên quan tâm xây dựng Luật Giải quyết các vụ án lao động, hiện nay các quy định này đang nằm ở Bộ luật Lao động và Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng những quy định này không đáp ứng được yêu cầu giải quyết các vụ án lao động. Người lao động không thể đợi chờ vài năm như việc đợi chờ giải quyết một tài sản để giải quyết vấn đề về việc làm cho họ hay chế độ thai sản trong khi ngày sinh rất liền kề do vậy tính chất đặc thù của quan hệ lao động rất cần phải có một luật riêng.

Lượt xem: 737

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.