Đại biểu Nguyễn Quốc Bình thảo luận về dự thảo Nghị quyết xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng

Đại biểu Nguyễn Quốc Bình - TP Hà Nội đã có ý kiến tranh luận một ý với Báo cáo thẩm tra cũng như một số ý kiến của các đại biểu đã phát biểu là: việc xử lý tín dụng để thu giữ tài sản khi thế chấp là một việc cần thiết để tạo điều kiện hoạt động lành mạnh tín dụng cho ngân hàng và đảm bảo quyền lợi của nhà nước. Tuy nhiên, nếu mọi hợp đồng chúng ta chỉ căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên và mọi hợp đồng chúng ta đều thu giữ, việc này rất phức tạp và chưa hợp lý...

Chiều 12-6, Quốc hội tiếp tục thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Đa số đại biểu đồng tình với việc cần thiết phải ban hành Nghị quyết. Các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã thảo luận sôi nổi trong phiên họp toàn thể hội trường. Có 17 đại biểu phát biểu ý kiến và 1 ý kiến tranh luận trong thảo luận.

Có đại biểu cho rằng dù cố gắng đến đâu cũng không thể xóa được hoàn toàn nợ xấu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nhưng trách nhiệm của hệ thống là phải có biện pháp phòng ngừa, kiểm soát nợ xấu ở mức độ có thể chấp nhận được. “Chính vì vậy trên cơ sở Nghị quyết này, hệ thống ngân hàng cần tranh thủ điều kiện thuận lợi để xử lý dứt điểm “cục máu đông” đã tích tụ bấy lâu nay”.

Có đại biểu còn băn khoăn về quy định đối tượng ưu tiên trong xử lý nợ xấu và đề nghị cân nhắc tới bà con nông dân vì đây là đối tượng yếu thế trong xã hội. “Hiện nay chúng ta đang nắm giữ bao nhiêu “sổ đỏ” của nông dân, trong đó bao nhiêu cái là nông dân tự đi thế chấp, bao nhiêu cái là do bị lừa đảo, lợi dụng mang đi thế chấp? Nếu không có thứ tự ưu tiên hợp lý cho đối tượng này, có thể gây bất ổn xã hội”.

Đại biểu Nguyễn Quốc Bình - TP Hà Nội đã có ý kiến tranh luận một ý với Báo cáo thẩm tra cũng như một số ý kiến của các đại biểu đã phát biểu là: việc xử lý tín dụng để thu giữ tài sản khi thế chấp là một việc cần thiết để tạo điều kiện hoạt động lành mạnh tín dụng cho ngân hàng và đảm bảo quyền lợi của nhà nước. Tuy nhiên, nếu mọi hợp đồng chúng ta chỉ căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên và mọi hợp đồng chúng ta đều thu giữ, việc này rất phức tạp và chưa hợp lý. Bởi vì, phải xác định hợp đồng đấy có hiệu lực hay không, có hợp đồng chúng ta chưa có báo cáo thực tế nhưng thực tế đã xảy ra rất nhiều trường hợp là hợp đồng vô hiệu. Nếu hợp đồng vô hiệu mà chúng ta một bên thu giữ tài sản thì tôi e rằng không đảm bảo về mặt pháp luật.

Thực tế ở Hà Nội xảy ra một trường hợp một doanh nghiệp đã được nhà nước giao đất và trong hợp đồng giao đất đấy được phép mang góp vốn liên doanh, nhưng khi hoạt động thua lỗ, phá sản thì nhà nước thu lại đất. Với một hợp đồng như vậy, nhưng ngân  hàng vẫn ký vẫn cho vay bảo lãnh tín dụng và đúng doanh nghiệp liên doanh đấy phá sản. Sau này ngân hàng cứ yêu cầu chính quyền thành phố phải trả bằng được tài sản đấy. Nhưng doanh nghiệp yêu cầu đưa ra tòa, khi hỏi ý kiến thì tòa bảo hợp đồng này vô hiệu, một số doanh nghiệp nên đưa ra tòa án để lấy tài sản nhưng ngân hàng nhất định không đưa, 10 năm rồi cũng không đưa ra tòa. Vì đưa ra tòa hợp đồng vô hiệu không thể lấy tài sản được, nếu quy định như vậy thì xảy ra rất nhiều trường hợp là hợp đồng vô hiệu và ảnh hưởng đến quyền lợi của người mang thế chấp.

Vấn đề nếu ta xác định hợp đồng có hiệu lực mới được thi hành thì ai sẽ là cơ quan xác định hợp đồng đấy có hiệu lực. Do vậy đề nghị nên cân nhắc việc này xảy ra trong thực tiễn rất nhiều.

Thay mặt cơ quan trình dự thảo Nghị quyết, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng đã giải trình, làm rõ những nội dung mà các ĐBQH quan tâm, đề cập trong thảo luận.

Liên quan đến mục tiêu của Nghị quyết, Thống đốc cho hay, việc xử lý nợ xấu sẽ giúp giảm chi phí tài chính của các TCTD. Qua đó tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp và của nền kinh tế, qua đó bảo đảm an toàn hoạt động của các TCTD và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Đối với đề nghị của các ĐBQH về nguyên tắc không sử dụng ngân sách Nhà nước, Chính phủ khi bàn vấn đề này cũng đã báo cáo Quốc hội rất nghiêm túc là Chính phủ không sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu.

Tuy nhiên, trong quá trình xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm các TCTD cũng liên quan đến việc trích lập dự phòng. Khi yêu cầu các TCTD sử dụng thu nhập để tăng cường trích lập dự phòng, chắc chắn ảnh hưởng đến việc thu, nộp thuế doanh nghiệp.

Ông Lê Minh Hưng cũng nhấn mạnh nợ xấu luôn tiềm ẩn, phát sinh song hành với hoạt động của hệ thống các TCTD. Trong điều kiện áp dụng đồng bộ các giải pháp hạn chế nợ xấu, thì tính trung bình nợ xấu mới phát sinh hằng năm khoảng từ 1,3-1,5% trên tổng dư nợ và cho vay đầu tư đối với nền kinh tế, chủ yếu do các nguyên nhân khách quan và một số nguyên nhân chủ quan.

Để duy trì mục tiêu kiểm soát nợ xấu ở mức dưới 3%, tổng nợ xấu cần xử lý trong 6 năm tới là khoảng 640.000 tỷ đồng, bình quân mỗi năm phải xử lý gần 130.000 tỷ đồng. Như vậy, nếu chỉ giới hạn xử lý nợ xấu đã ghi nhận đến 31/12/2016 thì số nợ xấu mới phát sinh trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực sẽ tiếp tục gặp vướng mắc về cơ chế.

Phát biểu kết thúc thảo luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển khẳng định, các ý kiến các vị ĐBQH sẽ được Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ quan hữu quan tiếp thu một cách nghiêm túc và sẽ hoàn thiện Nghị quyết để trình Quốc hội thông qua.

NGỌC ÁNH

Lượt xem: 624

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.