Đại biểu Nguyễn Văn Chiến với các góp ý về Kinh tế xã hội năm 2018

Chiều 27/10, phát biểu tại hội trường, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Chiến cho rằng tại nhóm thứ 8 trong 12 nhóm giải pháp, nội dung tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tư pháp chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần chú ý mấy vấn đề

           Chiều  ngày 27/10, phát biểu tại hội trường, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Chiến cho rằng tại nhóm thứ 8 trong 12 nhóm giải pháp, nội dung tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tư pháp chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần chú ý mấy vấn đề sau

          Thứ nhất, một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường điều căn bản là minh bạch về sở hữu rõ ràng về quyền lợi doanh nghiệp trong hay ngoài nhà nước phải bình đẳng không phân biệt đối xử. Quyền lợi hợp pháp của dân tham gia nền kinh tế phải được bảo đảm, Chính phủ cần quan tâm hơn nữa công tác tư pháp trong kế hoạch mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Đại biểu Nguyễn Chiến phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

            Thứ hai, nội dung nhóm giải pháp nhiệm vụ thứ nhất hoàn thiện thể chế và chuẩn bị điều kiện cần thiết và thực thi khai thác tốt những cơ hội ký kết hiệp định thương mại tự do. Vấn đề hoàn thiện thể chế ở đây có đặt ra với công tác tư pháp không? Khẳng định là phải có vì hoàn thiện thể chế tư pháp là điều kiện để cơ hội đầu tư kinh doanh các hiệp định thương mại tự do được thực thi hiệu quả.

           Thứ ba, một trong các yếu tố về tăng trưởng kinh tế là tăng năng suất lao động thì phải tăng đầu tư, không chỉ ở nguồn ngân sách nhà nước, vốn vay nước ngoài mà cần phải huy động nội lực là nguồn vốn huy động trong dân. Vụ việc vừa qua ở Cần Thơ, người thợ điện đổi 100 đô la bị phạt 90 triệu đồng là điển hình thiếu trong quy định, thiếu áp dụng, chưa nghiêm minh trong quản lý nhà nước làm dư luận không đồng tình.

           Việc xóa bỏ tình trạng đô la hóa thị trường phải được thực thi nhưng những quy định cứng không có định lượng, đổi ngoại tệ không đúng nơi được cấp phép phải bị phạt nhưng chúng ta đã giúp người dân nhận diện phân biệt nơi nào được đổi và nơi nào không được đổi. Sự tồn tại của các nơi đổi ngoại tệ bất hợp pháp còn rất nhiều thì đó trước hết phải là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, những mức phạt phải xem xét lại vì đổi 10 USD, 100 USD cũng cùng mức phạt như đổi 1.000 USD hay 100.000 USD đều ở phạt ở mức 80 triệu đến 100 triệu là không phù hợp. Cơ chế thị trường có cung ắt có cầu, thị trường buôn bán chuyển đổi ngoại tệ đen ngày đêm vẫn hoạt động công khai, hầu như không bị kiểm soát và xử phạt. Thiết nghĩ, nhà nước phải thu hẹp trước để người dân không còn vi phạm.

          Thứ tư, lâu nay tìm cách phát triển nền kinh tế chúng ta chỉ nghĩ đến các khoản đầu tư ODA, FDI hay các khoản vay trái phiếu Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư trong nước. Gần đây mối quan tâm đến khai phóng tiềm lực trong nhân dân, khuyến khích người dân đầu tư lập nghiệp, làm ăn nhưng tại sao hành lang pháp lý đã có, nhiều đến mức đang phải cắt giảm thủ tục hành chính, thủ tục kinh doanh nhưng người dân vẫn chưa yên tâm bỏ tiền đầu tư. Vậy, sắp tới Chính phủ có giải pháp nào để số tiền này trong dân sẽ được đưa vào lưu thông, góp phần thực hiện giải pháp tăng trưởng nền kinh tế như đã đặt ra. Thiết nghĩ, giải pháp nào cũng phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân. Một nền kinh tế thị trường dựa trên sức dân thì phải song hành với một hệ thống tư pháp rõ ràng, minh bạch, thực thi nghiêm minh.

            Thứ năm, doanh nghiệp, người dân hiện nay cần cơ chế thuận lợi trong quyết định đầu tư, dễ dàng, khách quan trong giải quyết tranh chấp, bình đẳng, công bằng trong đối xử. Đặc biệt, hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế dứt khoát phải loại trừ.

           Thứ sáu, yếu tố thể chế, chính sách pháp luật tạo rào cản bất cập, bất công hay yếu tố con người, năng lực thực thi, vô cảm trước quyền lợi, nỗi đau của người dân, doanh nghiệp đang ngự trị chúng ta cần nhìn nhận lại. Ở trên Quốc hội, Chính phủ đã quyết liệt hoàn thiện pháp luật và thể chế để đảm bảo thực thi, ở người dân nóng vì mong đợi sự cải cách, đổi mới, kỳ vọng quyền lợi hợp pháp được bảo đảm. Nhưng ở giữa một bộ phận không nhỏ bộ máy cơ quan nhà nước vẫn lạnh, vô cảm trước quyền lợi chính đáng của người dân. Không coi người dân là mục tiêu phục vụ trong công tác của mình, vì không có nền kinh tế mạnh phát triển trên sức dân.

          Thứ bảy, thực tế thực hiện chủ trương cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, doanh nghiệp bỏ tiền đầu tư, thủ tục hoàn tất, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, ổn định sau cổ phần nhưng vụ việc bị thanh tra, mặc dù lỗi không thuộc doanh nghiệp nhưng kết quả giải quyết, tài sản bị thu hồi, thiệt hại thuộc về doanh nghiệp, người lao động rất lớn. Cơ hội kinh doanh mất đi, tranh chấp phát sinh, kiện tụng kéo dài, bản án tuyên không thi hành được.

         Theo Báo cáo của Chính phủ về công tác thi hành án dân sự năm 2018, tiền phải thi hành là 196.000 tỷ đồng, khoảng hơn 8 tỷ đôla, nhưng mới thi hành được 38,4%, đó là thực trạng chưa có giải pháp căn cơ, hữu hiệu. Vì vậy, phải coi công tác tư pháp là mắt xích quan trọng trong guồng máy phát triển kinh tế, nếu mắt xích này yếu sẽ kìm hãm việc thực hiện giải pháp chung của nền kinh tế đất nước. Chính phủ cần lưu ý cơ chế tư pháp gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội làm cho các giải pháp được đồng bộ và hiệu quả.

Lượt xem: 703

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.