Đại biểu Quốc hội Đoàn Hà Nội góp ý vào dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng

Theo chương trình làm việc ngày 13/6, Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi). Đoàn ĐBQH Hà Nội có 3 đại biểu phát biểu đó là: Đại biểu Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Anh Trí và Nguyễn Chiến.

Theo chương trình làm việc ngày 13/6, Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi). Đoàn ĐBQH Hà Nội có 3 đại biểu phát biểu đó là: Đại biểu Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Anh Trí và Nguyễn Chiến.

Đại biểu Nguyễn Hữu Chính góp ý nhiều nội dung trong dự thảo Luật cụ thể như sau:

Về phạm vi điều chỉnh của luật tán thành với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh ra ngoài khu vực nhà nước trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, dự thảo mới chỉ mở rộng phạm vi áp dụng đến công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, các tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, v.v... Nếu chỉ dừng lại ở đây, phạm vi này việc quản lý, kiểm soát tài sản vẫn chưa triệt để. Mặc dù trong điều kiện hiện nay nếu mở rộng phạm vi điều chỉnh ra toàn bộ khu vực ngoài nhà nước sẽ rất khó khăn về nguồn lực phục vụ công tác kiểm soát tài sản. Tuy nhiên, trong tương lai để đảm bảo tính toàn diện và phát huy hết vai trò của pháp luật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thì chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật đến tất cả các tổ chức, pháp nhân, cá nhân trong và ngoài nhà nước.

Về quà tặng, nhận quà tặng: dự thảo mới chỉ cấm người có chức vụ, quyền hạn không được nhận quà tặng của những người liên quan đến công việc do người đó giải quyết hoặc quản lý. Trong thực tiễn có nhiều trường hợp người thân thích của người có chức vụ, quyền hạn nhận quà tặng của người khác hoặc người đó nhận quà tặng của những người không liên quan đến công việc do mình quản lý nhưng tác động đến người có thẩm quyền giải quyết công việc cho người đưa quà tặng thì dự thảo chưa đề cập và chưa có biện pháp xử lý. Đây là kẽ hở cần thiết phải sửa đổi, bổ sung điều này cho phù hợp với lý luận và thực tiễn hiện nay.

Về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập: nếu chỉ tập trung nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập của cơ quan thanh tra sẽ dẫn đến phải tăng nguồn lực cho cơ quan thanh tra, trong khi đó Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị từ nay đến năm 2021 phải tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Nếu chỉ dùng nguồn lực hiện tại thì việc kiểm soát tài sản thu nhập sẽ không khả thi, không hiệu quả và chỉ mang tính hình thức.

Về xử lý tài sản thu nhập kê khai không trung thực tại Điều 59 dự thảo, dự thảo đưa ra hai phương án, xử lý tài sản thu nhập kê khai không trung thực, phương án thứ nhất: Yêu cầu cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền thực hiện việc thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế. Phương án thứ hai: Xử lý vi phạm hành chính với mức phạt tiền bằng 45% giá trị phần tài sản thu nhập chênh lệch hoặc tăng thêm.

Thực tế về mặt lý luận, khi pháp luật đã quyết định một chủ thể phải có trách nhiệm kê khai đúng và đầy đủ tài sản thu nhập của mình mà không kê khai hoặc kê khai không trung thực thì chủ thể đó đã vi phạm pháp luật và đó là vi phạm hình sự hoặc vi phạm hành chính, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm pháp luật. Hiện nay thì chỉ quy định hai hình thức, đó là xử lý hình sự và xử lý hành chính. Mặt khác, hành vi kê khai tài sản không đúng, không đầy đủ và không trung thực không phải là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của luật thuế hiện nay. Đối với những người kê khai tài sản không trung thực nhưng đã nộp thuế thu nhập cá nhân đầy đủ hoặc khoản thu nhập chưa kê khai thuộc trường hợp miễn thuế theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân thì không áp dụng biện pháp thu thuế thu nhập cá nhân như phương án 1. Do vậy, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo phương án 2 là hợp lý hơn kể cả lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần nêu rõ căn cứ để xử phạt 45% giá trị tài sản không kê khai là như thế nào. Cần bổ sung thêm một số biện pháp xử lý khác liên quan đến nhân thân như xử phạt, cảnh cáo, khiển trách, cách chức, hạ bậc lương...

Đại biểu Nguyễn Anh Trí tranh luận về kê khai tài sản, thu nhập, dự thảo chưa bao quát hết được đối tượng tham nhũng. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, đề xuất sửa đổi luật để giải quyết cho được một bất cập rất lớn trong thực tiễn này. Ví dụ, khi có dư luận, báo chí vào cuộc về khối tài sản khủng, nghi tham nhũng thì có thể yêu cầu con chưa thành niên cũng phải kê khai tài sản.

Vấn đề tài sản tham nhũng và tài sản không minh bạch. Cần giải thích từ ngữ các loại tài sản này, "tài sản tham nhũng" đã có giải thích ở khoản 3 Điều 4 và được hiểu đó là tài sản ăn cắp, lợi dụng mà có được, và qua xét xử đã có kết luận được loại tài sản này thì bị tịch thu triệt để. "Tài sản không minh bạch", là bao gồm tất cả các tài sản không kê khai, kê khai không trung thực, tài sản không giải thích được một cách hợp lý, loại tài sản này thì chưa tịch thu mà chỉ thực hiện theo phương án 1 Điều 59. Cần bổ sung "người có tài sản không minh bạch bị xem xét để kỷ luật, tài sản không minh bạch không được mua bán và trao đổi, người sử dụng tài sản không minh bạch sẽ không được bổ nhiệm chức vụ và có thể kết cục sẽ bị kỷ luật

Đại biểu Nguyễn Văn Chiến cho rằng các quy định về phương án để xử lý đối với những tài sản do đối tượng kê khai không đầy đủ hoặc không kê khai, theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, phương án 2 là không phù hợp. Vì nếu xử lý hành chính với hành vi kê khai tài sản thu nhập đó là hành vi của người có nghĩa vụ phải kê khai. Nhưng nếu họ không kê khai mà thực hiện xử lý tới 45% là không tương xứng vì còn liên quan trình tự, thủ tục về xử lý vi phạm hành chính cũng như mức độ xử lý, xử phạt vi phạm hành chính. Nếu việc xử lý tài sản mà họ không kê khai thuộc trách nhiệm cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh việc họ không kê khai là hành vi vi phạm nhưng trình tự, thủ tục vi phạm lại liên quan đến việc phải tuân theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện hành. Đặc biệt nó vướng ở thẩm quyền cũng như phạm vi xử lý vi phạm đối với phương án 2. Do vậy, đại biểu Chiến đề nghị phương án 1 là vấn đề xác định trách nhiệm phải nộp thuế đối với tài sản kê khai không đầy đủ hay không xác định rõ nguồn gốc.

Lượt xem: 618

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.