Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan: Việc ban hành Nghị quyết phải đi đôi với xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan Đoàn ĐBQH Hà Nội: Việc ban hành Nghị quyết phải đi đôi với xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện, nhằm đảm bảo Nghị quyết đã ban hành phải phát huy hiệu lực, hiệu quả cao nhất, không chỉ tạo ra động lực mới về vật chất mà còn phải tạo ra niềm tin cho cử tri và uy tín cho Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan Đoàn ĐBQH Hà Nội: Việc ban hành Nghị quyết phải đi đôi với xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện, nhằm đảm bảo Nghị quyết đã ban hành phải phát huy hiệu lực, hiệu quả cao nhất, không chỉ tạo ra động lực mới về vật chất mà còn phải tạo ra niềm tin cho cử tri và uy tín cho Quốc hội.

Sáng 27/10 Kỳ họp thứ  2, Quốc hội khóa XV thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng; các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Thừa Thiên - Huế.

Cơ bản các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các tỉnh, thành phố nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong việc thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển các địa phương.

Sáng 27/10/2021, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng; các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Thừa Thiên - Huế.

Các đại biểu cũng cho rằng, chính sách đặc thù đã được áp dụng tại một số địa phương, do đó cần có rà soát, đánh giá, phân định cụ thể sự phát triển của các địa phương là do tác động của chính sách đặc thù hay dựa trên thế mạnh của địa phương; sau khi áp dụng chính sách đặc thù địa phương có phát triển như kỳ vọng hay không để đánh giá tính hiệu quả của cơ chế để điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, không nên áp dụng dàn trải quá nhiều địa phương khi chưa có tổng kết, đánh giá.

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Lan Đoàn ĐBQH Hà Nội cho rằng, những nội dung, nội hàm quy định về cơ chế tài chính và phân cấp quản lý trong một số trường hợp trên thực tế không làm ảnh hưởng đến nguồn tài chính quốc gia, không giảm thu ngân sách Trung ương, không làm tăng nợ công hay nguy cơ mất ổn định các cân đối vĩ mô. Về hành chính thì không làm giảm nguyên tắc quản lý thống nhất và tập trung từ Trung ương đến địa phương mà chỉ là tạo điều kiện để các địa phương thực hiện nhanh nhất, có trách nhiệm cao nhất các biện pháp quản lý trên địa bàn, từ đó thúc đẩy công việc nhanh chóng, đúng theo mục tiêu cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử mà cả hệ thống chúng ta đang triển khai.

Đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội góp ý dự thảo Luật.

“Với những cơ chế đặc thù như Dự thảo Nghị quyết thì chắc chắn sẽ khơi thông nguồn lực và tạo ra sự đột phá trong phát triển không chỉ với 4 địa phương nêu trên mà còn lan tỏa ra cả vùng, góp phần thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển trên toàn quốc. Đây là bước nuôi dưỡng nguồn thu và tạo ra động lực mới” đại biểu Nguyễn Thị Lan tin tưởng.

Đại biểu đề nghị Quốc hội, Chính phủ là tiếp tục rà soát các địa phương ngoài các tỉnh, thành đã có cơ chế đặc thù để chia thành các nhóm, đối với những tỉnh mà có điều kiện khai thác ngay tiềm năng, lợi thế trên cơ sở có cơ chế đặc thù như 4 tỉnh, thành trên, để tạo điều kiện thúc đẩy nhanh, đồng bộ bức tranh phát triển 7 vùng kinh tế - xã hội. Đối với những tỉnh, thành đặc biệt khó khăn để có cơ chế chính sách đặc thù nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các địa phương, thực hiện phương châm không vùng nào, không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước mà Đảng và Nhà nước đang tập trung để chỉ đạo, đồng thời Quốc hội và Chính phủ rà soát lại các Nghị quyết đã trình để có các chính sách thực sự đột phá và các đặc thù riêng có tính khả thi cao cho các tỉnh đã thí điểm, để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế thực sự và phải đảm bảo nguyên tắc quản lý thống nhất, tập trung từ Trung ương đến địa phương, tạo nên một sức mạnh tổng thể của cả quốc gia, việc ban hành Nghị quyết phải đi đôi với xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện, nhằm đảm bảo Nghị quyết đã ban hành phải phát huy hiệu lực, hiệu quả cao nhất, không chỉ tạo ra động lực mới về vật chất mà còn phải tạo ra niềm tin cho cử tri và uy tín cho Quốc hội.

Tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, Đảng, Nhà nước luôn chú trọng hài hòa phát triển các vùng miền, việc tạo cơ chế, chính sách đặc thù thí điểm để các tỉnh, thành phố nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh, có điều kiện bứt phá phát triển tạo động lực, cực tăng trưởng mới, lan tỏa thúc đẩy phát triển trong vùng và đóng góp cho sự phát triển chung của cả nước. “Trong khi đó, hệ thống chính sách vẫn giữ nguyên chứ không có sự mất cân bằng”.

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiêu chí để lựa chọn các địa phương thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù gồm: Phù hợp với đường lối, phương hướng, nhiệm vụ phát triển địa phương và tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi; bảo đảm tính tương đồng với các tỉnh, thành phố đã áp dụng; dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tạo tính bứt phá nhưng đề cao tính tự lực, tự cường vươn lên. Cơ chế, chính sách đặc thù tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với trách nhiệm, cơ chế kiểm tra, giám sát, phù hợp với năng lực thực tiễn của địa phương.

Lượt xem: 423

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.