Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Hồng Nga tán thành nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi

Đại biểu Phạm Thị Hồng Nga cho rằng: Về độ tuổi trẻ em tôi đồng tình với dự thảo Luật (sửa đổi) nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi. Mặc khác từ 16 đến dưới 18 tuổi là độ tuổi có nhiều biến đổi về tâm sinh lý lứa tuổi, độ tuổi hết sức nhạy cảm, cần phải được quan tâm đặc biệt để giúp trẻ em hoàn thiện nhân cách và phát triển cả về thế chất lẫn tinh thần, giúp các em không bị nguy cơ lao động sớm và bảo vệ để không bị lạm dụng và xâm hại.

Tại phiên Quốc hội thảo luận về dự án Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) các đại biểu nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) thành Luật trẻ em như trong Tờ trình của Chính phủ nhằm thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về việc thực hiện các quyền của trẻ em; tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, đặc biệt là Công ước quốc tế về quyền trẻ em; khắc phục những hạn chế của Luật hiện hành nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn.

Đại biểu Phạm Thị Hồng Nga phát biểu

Thảo luận về độ tuổi trẻ em, một số đại biểu nhất trí về việc nâng độ tuổi trẻ em lên thành dưới 18 tuổi, để vừa bảo đảm tuân thủ Công ước quốc tế về quyền trẻ em, vừa thống nhất với các quy định của pháp luật Việt Nam về tuổi trưởng thành đầy đủ (tức là tuổi thành niên). Đồng thời, quy định như vậy phù hợp với độ tuổi hoàn thành giáo dục phổ thông, là bậc học giúp trẻ em hoàn thiện nhân cách, phát triển cả về thể chất và tinh thần để sẵn sàng tham gia vào đời sống xã hội.

Đại biểu Phạm Thị Hồng Nga  cho rằng: Về độ tuổi trẻ em tôi đồng tình với dự thảo Luật (sửa đổi) nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi. Mặc khác từ 16 đến dưới 18 tuổi là độ tuổi có nhiều biến đổi về tâm sinh lý lứa tuổi, độ tuổi hết sức nhạy cảm, cần phải được quan tâm đặc biệt để giúp trẻ em hoàn thiện nhân cách và phát triển cả về thế chất lẫn tinh thần, giúp các em không bị nguy cơ lao động sớm và bảo vệ để không bị lạm dụng và xâm hại. Nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi sẽ mở rộng được phạm vi áp dụng quyền trẻ em như vậy sẽ tác động tốt đến khuyến khích học tập, đảm bảo tốt hơn cho nhóm người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm đầy đủ hơn, không phải bỏ học để kiếm sống, được hỗ trợ học tập để hoàn thành phổ cập giáo dục và giảm thiểu được nguy cơ khác.

Góp ý về quy định công bằng trong hưởng thụ từ sự hỗ trợ của nhà nước đối với trẻ em bậc học mầm non (Khoản 1 Điều 44): “Nhà nước có chính sách chăm lo cho giáo dục mầm non tiến tới phổ cập giáo dục mầm non”. Đại biểu Nga cho rằng: “Độ tuổi mầm non là độ tuổi từ 0 tới dưới 6 tuổi, từ 0 đến dưới 3 tuổi là lứa tuổi rất nhỏ lúc này giáo dục gia đình rất quan trọng, độ tuổi này các cháu non cả về thể chất lẫn tinh thần, chịu nhiều rủi ro vì thế số trẻ ở độ tuổi này được đến lớp trên toàn quốc mới đạt 23%. Cho nên không khuyến khích phổ cập ở độ tuổi nhà trẻ”. Đại biểu đề nghị viết lại như sau: “Nhà nước có chính sách chăm lo cho giáo dục mầm non, tiến tới phổ cập giáo dục mầm non ở độ tuổi mẫu giáo”.

Về đảm bảo công bằng về cơ hội thụ hưởng, hỗ trợ từ Nhà nước cho mọi trẻ em ở bậc học mầm non, không phân biệt cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập (Khoản 4, Điều 44 ) Đại biểu đề nghị nên hỗ trợ bằng các chính sách xã hội hóa như quỹ đất sạch không phải mất tiền giải phóng mặt bằng, được miễn thuế, được vay vốn ưu đãi, được hỗ trợ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức kỹ năng cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ngoài công lập. Địa phương nào có điều kiện sẽ hỗ trợ thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, v.v... Không hỗ trợ bằng ngân sách Nhà nước và chỉ hỗ trợ những cơ sở giáo dục ngoài công lập đảm bảo chất lượng và những tiêu chí cần thiết. Ở những khu công nghiệp tập trung nhiều công nhân, Nhà nước sẽ bỏ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, sau đó thu học phí đủ để chi trả lương cho giáo viên. Doanh nghiệp tại khu công nghiệp sẽ hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội cho giáo viên mầm non và hỗ trợ những chính sách cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt nhất chương trình giáo dục mầm non.

Về trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội từ Điều 78 đến Điều 102. Đại biểu đề nghị không quy định cụ thể về trách nhiệm của từng bộ. Nếu đã quy định thì cần quy định cụ thể tránh chồng chéo. Đại biểu bổ sung: “Bộ Y tế xây dựng chương trình và phương pháp hướng dẫn cha, mẹ hoặc người giám hộ kiến thức, kỹ năng chăm sóc trẻ em từ 0 đến 6 tháng tuổi. Bộ Giáo dục xây dựng chương trình và có biện pháp hướng dẫn cha, mẹ hoặc người giám hộ những kiến thức kỹ năng, phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đặc biệt ở lứa tuổi nhà trẻ”.

Về trách nhiệm của gia đình (Điều 94) đại biểu đề nghị bổ sung một khoản : “Cha, mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm trong việc tự học, nâng cao kiến thức, kỹ năng, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ em. Vì một số gia đình hiện nay khoán trắng cho người giúp việc hoặc nhà trường, không có trách nhiệm tự học, tự đọc sách, tự nghiên cứu và học hỏi để có kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đúng cách”.

 Hoài Thương

Lượt xem: 1607

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.