Đại biểu Quốc hội nêu lên những khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện kế hoạch đầu tư công

Sáng ngày 29/10/2018 tại phiên thảo luận tại Hội trường về kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 và kế hoạch tài chính- ngân sách nhà nước quốc gia 3 năm 2019-2021; Kế hoạch đầu tư công trung hạn… Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai đã khẳng định đổi mới là cần thiết, đổi mới là đúng đắn, những cố gắng nỗ lực của Chính phủ, các cấp, các ngành là thực sự đáng ghi nhận. Đại biểu Mai cũng đề cập đến những khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện kế hoạch đầu tư công.

             Sáng ngày 29/10/2018 tại phiên thảo luận tại Hội trường về kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 và kế hoạch tài chính- ngân sách nhà nước quốc gia 3 năm 2019-2021; Kế hoạch đầu tư công trung hạn… Đại biểu quốc hội Đoàn Hà Nội đã khẳng định đổi mới là cần thiết, đổi mới là đúng đắn, những cố gắng nỗ lực của Chính phủ, các cấp, các ngành là thực sự đáng ghi nhận. Đại biểu Mai cũng đề cập đến những khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện kế hoạch đầu tư công.

            Vấn đề thứ nhất, liên quan đến tính dàn trải trong thực hiện kế hoạch đầu tư công. Khi đánh giá việc thực hiện kế hoạch đầu tư công thì cụm từ "đầu tư dàn trải"dường như quen thuộc. Như Quốc hội cũng biết tổng mức đầu tư sau giai đoạn 2016 - 2020 là 2 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, tương đương với số vốn này số dự án của chúng ta là không nhỏ, là 9.620 dự án. Hiện nay ở rất nhiều địa phương số lượng các dự án dở dang thiếu vốn là rất lớn, đó cũng là nỗi trăn trở của nhiều địa phương. Đặc biệt đối với nguồn trái phiếu Chính phủ 64 tỉnh thành phố, mỗi tỉnh thành phố được phân bổ một dự án trong số 260 nghìn tỷ đồng.

             So sánh với kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, số lượng các dự án trong kế hoạch đầu tư của chúng ta thực sự là rất lớn và cũng hiếm ở quốc gia nào có phương pháp phân bổ mỗi tỉnh thành phố có một dự án. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nguồn lực đầu tư từ phía nhà nước hầu như chỉ tập trung vào những dự án có tác động lan tỏa, có tính tác động toàn xã hội. Ví dụ, ở Úc, trong năm 2018 kế hoạch đầu tư công trung hạn chỉ tập trung cho bốn dự án lớn, đó là dự án sân bay Tây Sydney, dự án Melbourne và một số các dự án khác. Ở Hàn Quốc, trong số 20 dự án cao tốc thì có tới 15 dự án được đầu tư bởi các thành phần kinh tế tư nhân. Còn ở Việt Nam, nếu chúng ta làm phép chia một cách cơ học, lấy tổng số nguồn lực và chia các dự án thì thấy rằng mong muốn để có được những dự án quy mô lớn thực sự rất khó khăn.

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai phát biểu (Ảnh: Hoài Thương)

              Qua giám sát thực tế tại các địa phương và cũng qua lắng nghe ý kiến của các đại biểu tại hội trường trong mấy ngày qua, tôi cảm nhận được những mong muốn của các địa phương là hoàn toàn chính đáng, nhu cầu là cần thiết. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn lực khó khăn, nợ công vẫn ở mức cao, bội chi lớn, lãi suất ngày một tăng, bắt buộc chúng ta phải có sự lựa chọn theo hướng tập trung, tránh dàn trải. Công bằng là nguyên tắc quan trọng đã được đề cập ở hầu hết các nghị quyết về phân bổ ngân sách. Tuy nhiên, công bằng không có nghĩa là cào bằng, có trọng tâm không có nghĩa chỉ một số các dự án, một số địa phương được chú trọng mà thực sự cần có một trật tự ưu tiên phù hợp với tính cấp thiết tại từng thời điểm, có lộ trình thích hợp để dần dần hoàn thành bức tranh đầu tư công trên phạm vi toàn quốc. Để khắc phục tình trạng này, có một số giải pháp quan trọng cần được tập trung, chú ý như sau:

              Thứ nhất, cần cương quyết thay đổi cách phân bổ nguồn lực. Theo đó cần tuân thủ trật tự ưu tiên được quy định ở các văn bản pháp luật.

              Thứ hai, việc đề xuất dự án cần có sự phối hợp liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong cùng một khu vực vì lợi ích chung để khắc phục tình trạng có quá nhiều dự án nhỏ lẻ nhưng lại thiếu những dự án có quy mô lớn mang tính lan tỏa vùng miền.

              Thứ ba, chú trọng hơn nữa công tác quy hoạch. Một quy hoạch kém sẽ cho ra đời những dự án dàn trải, thấp hiệu quả.

             Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc Nhà nước chỉ đầu tư ở những ngành, những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không thể đầu tư, không muốn đầu tư hay không được phép đầu tư.

             Vấn đề thứ hai, đó là tính hiệu quả hay còn gọi là kết quả đầu ra của các dự án. Xét dưới giác độ lý luận, hiệu quả vốn đầu tư là kế hoạch của việc so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào trong toàn bộ quá trình đầu tư. Hiệu quả đầu tư có thể là hữu hình, có thể là vô hình. Theo báo cáo của Chính phủ thời gian qua thì số lượng các dự án hoàn thành rất lớn. Trong giai đoạn 2011-2015 tổng số dự án hoàn thành là 1.789 dự án, nếu tính đến hết năm 2018 số lượng sẽ là 6.290 dự án. Tuy nhiên, xét dưới giác độ kết quả đầu ra, hiện nay chưa có báo cáo nào khẳng định là tất cả các dự án đều mang lại hiệu quả thiết thực. Trong hàng nghìn công trình hoàn thành có bao nhiêu công trình hiệu quả cao, bao nhiêu công trình hiệu quả thấp, bao nhiêu công trình chưa hiệu quả? Hiện nay chúng ta chưa có câu trả lời chính xác. Tại Nghị quyết 25 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm đã đề cập đến một nguyên tắc cơ bản, đó là thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện nguyên tắc này còn rất nhiều khó khăn.

           Trong nhiều năm qua khâu phân bổ nguồn lực đã được chú trọng, song khâu đánh giá hiệu quả sau đầu tư thực sự chưa được quan tâm. Ngay cả trong hệ thống văn bản pháp luật thì các quy định chỉ mới tập trung ở phê duyệt, thẩm định, phân bổ mà thiếu vắng các quy định về trách nhiệm, hiệu quả sau đầu tư, đặc biệt là thiếu các quy định về tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu ra. Để khắc phục tình trạng này tôi nghĩ rằng có một số giải pháp cần chú ý như sau:

            Thứ nhất, cần hoàn chỉnh sớm bộ tiêu chí về đánh giá hiệu quả đầu ra theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay, theo khung đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đánh giá hiệu quả đầu tư được dựa trên 3 nhóm tiêu chí và 15 nhóm tiêu chuẩn, đó là cơ sở để chúng ta có thể tham khảo.

             Thứ hai, ngay từ khi lựa chọn dự án cần làm rõ kết quả đầu ra tương xứng với nguồn lực được đầu tư.

           Thứ ba, cần có cơ chế tăng cường trách nhiệm giải trình trong hoạt động giám sát. Bên cạnh việc giám sát tại cơ sở, địa phương cần tăng cường hơn nữa số lượng các phiên giải trình, từ đó làm rõ những bất cập, khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn.

            Đây là lần đầu tiên chúng ta thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn, bước sơ kết hôm nay là để chuẩn bị cho bước tổng kết 2 năm sau và chuẩn bị khởi động cho một giai đoạn mới. Theo quy định của Luật Đầu tư công bắt đầu từ tháng 5/2019 sẽ khởi động bước đầu tiên cho giai đoạn mới, việc đánh giá, nhìn nhận chính xác những bất cập ngày hôm nay sẽ tạo tiền đề cho những bước đi vững chắc cho giai đoạn tiếp theo.

Lượt xem: 548

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.