Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai phát biểu thảo luận về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai cho rằng những năm đầu của thời kỳ đổi mới, cùng với các quy định về khuyến khích đầu tư, các quy định về miễn, giảm thuế đã phát huy tác dụng và góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, thu hút nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước và góp phần giải quyết nhiều vấn đề mang tính xã hội. Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, các quy định liên quan đến chính sách thu, trong đó có các quy định về miễn, giảm thuế đã có những bất cập, hạn chế nhất định.

Tiếp tục chương trình kỳ họp Quốc hội thứ Ba, sáng ngày 12/6, Quốc hội thảo luận về Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015, Đoàn ĐBQH TP Hà Nội có Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai phát biểu.

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai cho rằng những năm đầu của thời kỳ đổi mới, cùng với các quy định về khuyến khích đầu tư, các quy định về miễn, giảm thuế đã phát huy tác dụng và góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, thu hút nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước và góp phần giải quyết nhiều vấn đề mang tính xã hội. Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, qua giám sát thực tế, qua hoạt động thẩm tra cũng như qua so sánh với văn bản pháp luật của nhiều nước trên thế giới, các quy định liên quan đến chính sách thu, trong đó có các quy định về miễn, giảm thuế đã có những bất cập, hạn chế nhất định.

Thứ nhất, việc miễn, giảm đã được ban hành với tốc độ khá nhanh, phạm vi khá rộng và đối tượng miễn, giảm thì ngày một tăng. Hiện nay, theo thống kê của tổ chức Oxfam thì trên toàn quốc chúng ta có khoảng 30 lĩnh vực khuyến khích đầu tư, 27 lĩnh vực thuộc diện đặc biệt khuyến khích đầu tư. Có 53/64 tỉnh thành phố có huyện, xã thuộc địa bàn khuyến khích đầu tư, trong đó có áp dụng quy định về miễn giảm thuế. Ngoài ra, chúng ta có 300 khu kinh tế, khu công nghiệp đang áp dụng chính sách miễn giảm thuế.

Một điều nữa đại biểu Mai băn khoăn là chỉ trong 2 kỳ họp vừa qua, tại kỳ họp thứ 3 và 4 Quốc hội đã xem xét thông qua và chuẩn bị thông qua nhiều đạo luật, trong đó có quy định chính sách miễn, giảm thuế, đó là hàng loạt các dự án luật, như dự án Luật chuyển giao công nghệ, Luật đường sắt (sửa đổi), Luật các tổ chức tín dụng, Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị quyết về xử lý nợ xấu, Luật thủy lợi, Luật du lịch, Luật thủy sản, Luật bảo vệ rừng, tất cả những đạo luật này đều chứa đựng quy định miễn, giảm thuế và cơ chế tài chính đặc thù.

Bất cập thứ 2 là hiện nay có tình trạng khá phổ biến, đó là lồng ghép các chính sách xã hội và chính sách thuế. Đôi khi chúng ta sử dụng công cụ thuế như một công cụ hữu hiệu để giải quyết những vấn đề mang tính xã hội. Điều này làm mất đi tính trung lập của thuế, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bất cập thứ ba, các quy định về miễn, giảm thuế chưa mang tính hệ thống. Hiện nay ngoài các đạo luật về thuế, quy định về miễn, giảm thuế, rất nhiều đạo luật khác cũng quy định, như Luật đất, đai, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật bảo vệ môi trường, điều này làm ảnh hưởng đến tính hệ thống của các quy định này.

Trước thực trạng này, việc miễn giảm thuế trên diện rộng trong thời gian dài sẽ tác động phần nào đến thu ngân sách nhà nước. Theo ước tính của Chính phủ hiện nay cứ giảm 1% thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp đồng nghĩa với việc chúng ta giảm thu từ ngân sách nhà nước 6.000 tỷ đồng. Nếu chúng ta tiếp tục thực hiện chính sách miễn, giảm thuế sẽ không bảo đảm tính thống nhất với những chính sách mà chúng ta vừa ban hành. Cụ thể tại Nghị quyết 15 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm cũng đã nêu rõ nhiệm vụ thu hẹp diện miễn, giảm thuế, hạn chế tối đa việc lồng ghép các chính sách xã hội trong các luật về thuế, rà soát chính sách ưu đãi ảnh hưởng đến thu ngân sách. Như vậy, rõ ràng giữa việc ban hành chính sách với tổ chức thực hiện cũng thấy có khoảng cách nhất định.

Thứ tư, đó là việc miễn, giảm thuế trong một số trường hợp cũng tạo tâm lý chưa thực sự bình đẳng giữa người được miễn, giảm và đối tượng không được miễn, giảm, trong nhiều trường hợp cũng gây tâm lý cạnh tranh chưa thực sự bình đẳng. Theo phóng sự điều tra ngày 8/6 chúng ta xem trên chương trình thời sự, rất nhiều doanh nghiệp cho rằng vấn đề thuế không phải là vấn đề mấu chốt, mà cái họ kỳ vọng từ phía Chính phủ đó là chính sách xúc tiến thương mại, mặt bằng sản xuất là khoa học công nghệ, hỗ trợ về vốn, tín dụng, thuế chưa phải là vấn đề quan trọng nhất. Xuất phát từ thực trạng này, chúng tôi đề nghị đối với Chính phủ khi soạn thảo những văn bản pháp luật để trình Quốc hội xem xét thông quan thì cần có sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, trong trường hợp liên quan đến miễn, giảm thuế cũng cần có sự đồng thuận từ phía Bộ Tài chính.

Vấn đề thứ hai, nên hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế. Trong trường hợp cần thiết phải giải quyết vấn đề mang tính xã hội thì nên áp dụng chính sách chi ngân sách trực tiếp thay vì miễn giảm thuế. Điều này sẽ dẫn đến tính chưa thực sự minh bạch đơn giản trong tổ chức thực hiện. Đối với các cơ quan của Quốc hội, chúng tôi cũng mong rằng, khi chúng ta xem xét thông qua các dự án liên quan đến miễn giảm thuế cũng có cân nhắc để đảm bảo tính hợp lý.

Cuối cùng đại biểu Mai khẳng định việc miễn giảm thuế trong nhiều trường hợp là thực sự cần thiết và có hiệu quả. Tuy nhiên, cũng đã đến lúc cần phải rà soát một cách tổng thể để làm sao chính sách miễn giảm phát huy hiệu quả đích thực. Bên cạnh nhiệm vụ thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, nhiệm vụ của chính sách miễn giảm thuế và nhiệm vụ của thuế vẫn phải là nuôi dưỡng nguồn thu, tạo sự ổn định cho ngân sách nhà nước. Đảm bảo tính minh bạch công bằng và phù hợp với thông lệ quốc tế.

 NGỌC ÁNH

Lượt xem: 1028

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.