Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách Phạm Thị Thanh Mai thảo luận, góp ý vào dự án Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi)

Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai cho rằng chính sách phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện nay còn chung chung. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát quy định cụ thể hơn ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết phù hợp với định hướng phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội.

Sáng ngày 29/10/2021, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự án Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi). Phó Trưởng Đoàn chuyên trách  Đoàn ĐBQH Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai cho rằng chính sách phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện nay còn chung chung. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát quy định cụ thể hơn ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết phù hợp với định hướng phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội.

Sáng 29/10/2021, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự án Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Thanh Mai tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi) theo Tờ trình của Chính phủ nhằm thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng, khắc phục hạn chế, bất cập sau hơn 20 năm thi hành, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và tương thích với các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.

Đi sâu vào làm rõ một số vấn đề, đại biểu đề nghị, bổ sung khoản 2 Điều 2 (đối tượng áp dụng) các chủ thể cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải bao gồm cả cá nhân cho phù hợp, thống nhất với Điều 4 khoản 7 - giải thích từ ngữ về dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.

Ngoài ra, tại khoản 23, Điều 4 đề xuất bổ sung trường hợp người thụ hưởng do người được bảo hiểm chỉ định để linh hoạt phù hợp với loại hình bảo hiểm phi nhân thọ như trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm là người thuê tài sản, người được bảo hiểm là chủ sở hữu tài sản. Trong trường hợp này, chủ sở hữu tài sản (người được bảo hiểm) có thể chỉ định ngân hàng hoặc tổ chức tài chính cho chủ sở hữu tài sản vay tiền mua tài sản là người thụ hưởng.

Phó trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách Phạm Thị Thanh Mai thảo luận góp ý vào dự án Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi).

Đáng chú ý, về chính sách phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm (Điều 5) còn chung chung chưa rõ, đơn cử như việc khuyến khích, tạo điều kiện phát triển như thế nào cũng không giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị cần tiếp tục rà soát quy định cụ thể hơn ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết phù hợp với định hướng phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ đảm bảo linh hoạt và khả thi trên thực tế.

Liên quan đến vấn đề hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin thị trường bảo hiểm, đại biểu cho rằng việc bảo mật thông tin cá nhân người mua bảo hiểm là nội dung được quan tâm. Theo đó, tại khoản 2, Điều 6 dự thảo Luật có quy định trách nhiệm các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp thông tin về bên mua bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm và các thông tin khác có liên quan để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về kinh doanh bảo hiểm; đồng thời, tại khoản 4 Điều 6 quy định cơ sở dữ liệu về kinh doanh bảo hiểm được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Điều này cần được cân nhắc kỹ, đảm bảo phù hợp với Điều 21 Hiến pháp về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, được pháp luật bảo đảm về thông tin. Ngoài ra, nội dung này cần phải được ghi trong hợp đồng bảo hiểm, cần được giải thích cho người mua bảo hiểm để đảm bảo chặt chẽ, không vi phạm Hiến pháp. Đặc biệt, việc bảo mật thông tin cần được rà soát để đảm bảo phù hợp với Luật An ninh mạng. Báo cáo giải trình tiếp thu của Bộ Tài chính mới nêu trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong bảo mật thông tin khách hàng là chưa đủ mà cần được quy định trách nhiệm hình thức xử lý vi phạm đối với các cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về kinh doanh bảo hiểm để đảm bảo tính chịu trách nhiệm cao nhất trong bảo mật thông tin cá nhân.

Về hình thức hợp đồng bảo hiểm (Điều 15), đại biểu đề nghị xem xét sự thống nhất với khoản 1 và khoản 2. Cụ thể, khoản 1 quy định hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản; khoản 2 có nội dung hợp đồng bảo hiểm có thể được thể hiện bằng các hình thức giao dịch dân sự khác phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 về hình thức giao dịch dân sự có quy định “giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”. Do vậy, dẫn tới cách hiểu là hợp đồng bảo hiểm có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng hành vi là chưa logic với quy định tại khoản 1.

Riêng đối với nội dung về đề phòng, hạn chế tổn thất, tại khoản 5 Điều 62 quy định các cơ quan chức năng có liên quan hướng dẫn thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất, hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền về công tác đề phòng, hạn chế tổn thất. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng quy định này chưa làm rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, do đó quy định cần cụ thể hơn nữa để có thể thực hiện ngay khi Luật có hiệu lực.

Lượt xem: 488

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.