Quốc hội công bố kết quả và thông qua Nghị quyết lấy phiếu tín nhiệm

Chiều 25/10, sau khi nghe công bố kết quả kiểm phiếu lấy phiếu, 100% đại biểu Quốc hội có mặt (chiếm 95,67% tổng số đại biểu Quốc hội) đã biểu quyết thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Chiều 25/10, sau khi nghe ông Bùi Văn Cường, Trưởng ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm phiếu lấy phiếu, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Kết quả biểu quyết Nghị quyết lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội 14

Trước đó, ngày 24/10, Quốc hội đã nghe Trưởng Ban Công tác đại biểu Trần Văn Túy trình bày Tờ trình số 338/TTr-UBTVQH14 ngày 24/10/2018 về Danh sách những người được lấy phiếu tín nhiệm tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV.

Theo đó, tại Kỳ họp này, Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Trong số những người giữ chức vụ thuộc diện Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm lần này có hai chức danh vừa được Quốc hội bầu và phê chuẩn là Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng. Hai chức danh này sẽ không phải lấy phiếu tín nhiệm do theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 85/2014/QH13, Quốc hội không lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn có thời gian đảm nhiệm chức vụ liên tục chưa đủ 9 tháng, tính đến ngày khai mạc kỳ họp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội.

Vì vậy, danh sách được lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp này sẽ là 48 người.

Chiều 25/10, sau khi nghe công bố kết quả kiểm phiếu lấy phiếu, 100% đại biểu Quốc hội có mặt (chiếm 95,67% tổng số đại biểu Quốc hội) đã biểu quyết thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Điều 1 của Nghị quyết quyết nghị Kỳ họp thứ 6 đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với với 48 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn bảo đảm nghiêm túc, đúng nội dung, quy trình, thủ tục theo quy định pháp luật. Điều 2 xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm. 

Đồng thời rất cân nhắc để ghi trong phiếu tín nhiệm của từng chức danh với 3 mức: Tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp.

Kết quả lấy phiếu cụ thể:
KHỐI CHỦ TỊCH NƯỚC
1. Bà Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Tín nhiệm cao: 323 (66,6%)
Tín nhiệm: 146 (30,1%)
Tín nhiệm thấp: 06 (1,24%)
KHỐI QUỐC HỘI
1. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Tín nhiệm cao: 437 (90,1%)
Tín nhiệm: 34 (7,01%)
Tín nhiệm thấp: 4 (0,82%)
2. Bà Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 372 (76,7%)
Tín nhiệm: 91 (18,76%)
Tín nhiệm thấp: 11 (2,27%)
3. Ông Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 374 (77,1%)
Tín nhiệm: 92 (18,97%)
Tín nhiệm thấp: 9 (1,86%)
4. Ông Đỗ Bá Tỵ, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 327/67,42%
Tín nhiệm: 135/27,84%
Tín nhiệm thấp: 13/2,68%
5. Ông Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 362 (74,64%)
Tín nhiệm: 102 (21,03%)
Tín nhiệm thấp: 7 (2,68%)
6. Bà Nguyễn Thúy Anh, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 210 (43,3%)
Tín nhiệm: 232 (47,84%)
Tín nhiệm thấp: 32 (6,6%)
7. Ông Phan Thanh Bình, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 326 (67,22%)
Tín nhiệm: 146 (30,1%)
Tín nhiệm thấp: 2 (0,41%)
8. Ông Hà Ngọc Chiến, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 290 (59,79%)
Tín nhiệm: 181 (37,32%)
Tín nhiệm thấp: 3 (0,62%)
9. Ông Phan Xuân Dũng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 276 (56,91%)
Tín nhiệm: 176 (36,29%)
Tín nhiệm thấp: 22 (4,54%)
10. Ông Nguyễn Khắc Định, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 317 (63,36%)
Tín nhiệm: 145 (29,9%)
Tín nhiệm thấp: 12 (2,47%)
11. Ông Nguyễn Văn Giàu, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 330 (68,04%)
Tín nhiệm: 139 (28,66%)
Tín nhiệm thấp: 5 (1,03%)
12. Ông Nguyễn Đức Hải, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 323 (66,6%)
Tín nhiệm:144 (29,69%)
Tín nhiệm thấp: 7 (1,44%)
13. Bà Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng Ban dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 279 (57,53%)
Tín nhiệm: 171 (35,26%)
Tín nhiệm thấp: 25 (5,15%)
14. Bà Lê Thị Nga, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 338 (69,69%)
Tín nhiệm: 118 (24,33%)
Tín nhiệm thấp: 19 (3,92%)
15. Ông Nguyễn Hạnh Phúc, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 315 (64,95%)
Tín nhiệm: 133 (27,42%)
Tín nhiệm thấp: 26 (5,36%)
16. Ông Vũ Hồng Thanh, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 236 (54,23%)
Tín nhiệm: 182 (37,53%)
Tín nhiệm thấp: 29 (5,98%)
17. Ông Trần Văn Túy, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 341 (70,31%)
Tín nhiệm: 120 (24,74%)
Tín nhiệm thấp: 14 (2,89%)
18. Ông Võ Trọng Việt, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.
Tín nhiệm cao: 286 (58,97%)
Tín nhiệm: 166 (34,23%)
Tín nhiệm thấp: 23 (4,74%)
KHỐI CHÍNH PHỦ
1. Ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 393 (81,03%)
Tín nhiệm: 68 (14,02%)
Tín nhiệm thấp: 14 (2,89%)
2. Ông Trương Hòa Bình, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 336 (69,28%
Tín nhiệm: 122 (25,15%)
Tín nhiệm thấp: 15 (3,09%)
3. Ông Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Tín nhiệm cao: 377 (77,73%)
Tín nhiệm: 85 (17,53%)
Tín nhiệm thấp: 10 (2,06%)
4. Ông Vương Đình Huệ, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 354 (72,99%)
Tín nhiệm: 103 (21,24%)
Tín nhiệm thấp: 17 (3,51%)
5. Ông Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 305 (62,89%)
Tín nhiệm: 140 (28,87%)
Tín nhiệm thấp: 28 (5,77%)
6. Ông Trịnh Đình Dũng, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 210 (43,3%)
Tín nhiệm: 212 (43,71%)
Tín nhiệm thấp: 50 (10,31%)
7. Ông Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tín nhiệm cao: 341 (70,31%)
Tín nhiệm: 120 (24,74%)
Tín nhiệm thấp: 12 (2,47%)
8. Ông Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an.
Tín nhiệm cao: 273/56,29%
Tín nhiệm: 149/30,72%
Tín nhiệm thấp: 51/10,52%
9. Ông Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Tín nhiệm cao: 169 (34,85%)
Tín nhiệm: 270 (55,67%)
Tín nhiệm thấp: 34 (7,01%)
10. Ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Tín nhiệm cao: 226 (46,6%)
Tín nhiệm: 188 (38,76%)
Tín nhiệm thấp: 57 (11,75%)
11. Ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
Tín nhiệm cao: 255 (52,58%)
Tín nhiệm: 203 (41,86%)
Tín nhiệm thấp: 14 (2,89%)
12. Ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Tín nhiệm cao: 307 (63,3%)
Tín nhiệm: 153 (31,55%)
Tín nhiệm thấp: 12 (2,47%)
13. Ông Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội.
Tín nhiệm cao: 258 (53,2%)
Tín nhiệm: 189 (38,97%)
Tín nhiệm thấp: 25 (5,15%)
14. Ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Tín nhiệm cao: 169 (34,85%)
Tín nhiệm: 208 (42,89%)
Tín nhiệm thấp: 97 (20%)
15. Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Tín nhiệm cao: 229 (47,22%)
Tín nhiệm: 195 (40,21%
Tín nhiệm thấp: 49 (10,1%)
16. Ông Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Tín nhiệm cao: 273 (56,29%)
Tín nhiệm: 175 (36,08%)
Tín nhiệm thấp: 24 (4,95%)
17. Ông Phạm Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Tín nhiệm cao: 159 (32,78%)
Tín nhiệm: 226 (46,6%)
Tín nhiệm thấp: 89 (18,35%)
18. Ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Tín nhiệm cao: 197 (40,62%)
Tín nhiệm: 208 (42,89%)
Tín nhiệm thấp: 69 (14,23%)
19. Ông Lê Minh Hưng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tín nhiệm cao: 339 (69,9%)
Tín nhiệm: 122 (25,15%)
Tín nhiệm thấp: 11 (2,27%)
20. Ông Lê Minh Khái, Tổng Thanh tra Chính phủ.
Tín nhiệm cao: 304 (62,68%)
Tín nhiệm: 158 (32,58%)
Tín nhiệm thấp: 12 (2,47%)
21. Ông Lê Thành Long, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Tín nhiệm cao: 318 (65,57%)
Tín nhiệm: 134 (27,63%)
Tín nhiệm thấp: 22 (4,54%)
22. Ông Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tín nhiệm cao: 140 (28,87%)
Tín nhiệm: 194 (40%)
Tín nhiệm thấp: 137 (28,25%)
23. Ông Lê Vĩnh Tân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Tín nhiệm cao:157 (32,37%)
Tín nhiệm: 250 (51,55%)
Tín nhiệm thấp: 64 (13,2%)
24. Ông Nguyễn Văn Thể, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Tín nhiệm cao: 142 (29,28%)
Tín nhiệm: 221 (45,57%)
Tín nhiệm thấp: 107 (22,06%)
25. Ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Tín nhiệm cao: 148 (30,52%
Tín nhiệm: 252 (51,96%)
Tín nhiệm thấp: 72 (14,85%)
26. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế.
Tín nhiệm cao: 224 (46,19%)
Tín nhiệm: 197 (40,62%)
Tín nhiệm thấp: 53 (10,93%)
KHỐI TANDTC, VKSNDTC VÀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1. Ông Nguyễn Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao.
Tín nhiệm cao: 286/58,97%
Tín nhiệm: 171/35,26%
Tín nhiệm thấp: 18/3,71%
2. Ông Lê Minh Trí, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
Tín nhiệm cao: 204/42,06%
Tín nhiệm: 299/47,22%
Tín nhiệm thấp: 41/8,45%
3. Ông Hồ Đức Phớc, Tổng Kiểm toán Nhà nước.
Tín nhiệm cao: 245/50,52%
Tín nhiệm: 194/40%
Tín nhiệm thấp: 36/7,42%

Với kết quả lấy phiếu tín nhiệm này nhiều đại biểu đánh giá, việc bỏ phiếu tín nhiệm đã diễn ra khách quan, dân chủ, công bằng.

Lấy phiếu tín nhiệm nhằm thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội. Do đó, các đại biểu đã phát huy tinh thần khách quan, công tâm trong nhìn nhận đánh giá.

Hình ảnh Đoàn ĐBQH Hà Nội tại phiên họp chiều 25/10/2018

Như vậy Quốc hội đã hoàn thành việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Việc lấy phiếu tín nhiệm đã được triển khai đúng nội dung, quy trình, thủ tục theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Nghị quyết số 85/QH13 của Quốc hội.

Lượt xem: 523

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.