Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 26 thành viên Chính phủ

Tiếp tục kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV, sáng 28/7, dưới sự điều khiển của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Quốc hội đã tiến hành phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.

Tiếp tục kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV, sáng 28/7, dưới sự điều khiển của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Quốc hội đã tiến hành phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.

 

Quốc hội phê chuẩn các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2016- 2021. Ảnh: Đình Nam

Mở đầu phiên họp, Quốc hội đã nghe Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc báo cáo về kết quả thảo luận tại Đoàn về phê chuẩn đề nghị việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; nghe Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc báo cáo về việc giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.

Sau đó, Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ bằng hình thức bỏ phiếu kín.

Thay mặt ban kiểm phiếu, Trưởng ban kiểm phiếu Bùi Văn Cường công bố kết quả. Cụ thể, đối với chức danh Phó thủ tướng Chính phủ:

1.Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII Phạm Bình Minh giữ chức vụ Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 483 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 97,77% tổng số đại biểu Quốc hội.

2. Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Vương Đình Huệ giữ chức vụ Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 476 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 96,36% tổng số đại biểu Quốc hội.

3. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Vũ Đức Đam giữ chức vụ Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 473 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 95,75% tổng số đại biểu Quốc hội.

4. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Trương Hòa Bình được bầu giữ chức vụ Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 469 đại biểu Quốc hội, bằng 94,94% tổng số đại biểu Quốc hội.

5. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Trịnh Đình Dũng giữ chức vụ Phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ khóa XIV với 445 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 90,08% tổng số đại biểu Quốc hội.

Đối với chức danh Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.

1.Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Ủy ban Dân tộc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Đỗ Văn Chiến giữ chức vụ Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 482 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 97,57% tổng số đại biểu Quốc hội.

2. Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó Bí thư quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Đại tướng Ngô Xuân Lịch giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 477 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 96,56% tổng số đại biểu Quốc hội.

3. Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Bí thư Đảng ủy công an trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Thượng tướng Tô Lâm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Công an nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 473 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 95,75%  tổng số đại biểu Quốc hội.

4. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Đinh Tiến Dũng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 468 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 94,74% tổng số đại biểu Quốc hội.

5. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Chu Ngọc Anh giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV 464 với đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 93,93% tổng số đại biểu Quốc hội.

6. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Lê Minh Hưng giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 464 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 93,93% tổng số đại biểu Quốc hội.

7. Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Nguyễn Thị Kim Tiến giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Y tế nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 462 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 93,52% tổng số đại biểu Quốc hội.

8. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Trương Minh Tuấn giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 458 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 92,71% tổng số đại biểu Quốc hội.

9. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Công thương nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Trần Tuấn Anh giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Công thương nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 458 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 92,71% tổng số đại biểu Quốc hội.

10. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Phùng Xuân Nhạ giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 454 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 91,90% tổng số đại biểu Quốc hội.

11. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Mai Tiến Dũng giữ chức vụ Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 453 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 91,70% tổng số đại biểu Quốc hội.

12. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Nguyễn Chí Dũng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 452 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 91,50% tổng số đại biểu Quốc hội.

13. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Nguyễn Ngọc Thiện giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 452 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 91,50% tổng số đại biểu Quốc hội.

14. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Bộ Giao thông- Vận tải, Bộ trưởng Bộ Giao thông- Vận tải nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Trương Quang Nghĩa giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông- Vận tải nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 451 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 91,30% tổng số đại biểu Quốc hội.

15. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban cán sự Đảng Chính phủ, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Lê Vĩnh Tân giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 449 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 90,89% tổng số đại biểu Quốc hội.

16. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Lê Thành Long giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 448 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 90,69% tổng số đại biểu Quốc hội.

17. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Phạm Hồng Hà giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Xây dựng nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 444 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 89,88% tổng số đại biểu Quốc hội.

18.Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Thanh tra Chính phủ, Tổng thanh tra Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Phan Văn Sáu giữ chức vụ Tổng thanh tra Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 439 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 88,87% tổng số đại biểu Quốc hội.

19. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thứ trưởng Nông nghiệp và phát triển nôn thôn Nguyễn Xuân Cường giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 428 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 86,64% tổng số đại biểu Quốc hội.

20. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII Trần Hồng Hà giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 412 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 83,40% tổng số đại biểu Quốc hội.

21. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV với 400 đại biểu Quốc hội tán thành, bằng 80,97% tổng số đại biểu Quốc hội.

Ngay sau đó, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016- 2021 với 97,37 % tổng số đại biểu Quốc hội có mặt tán thành; thông qua Nghị quyết phê chuẩn việc bổ nhiệm Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021 với 96,56% tổng số đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. 

Theo quochoi.vn

Lượt xem: 530

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.