Quốc hội thảo luận Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự

Ngày 24/5/2017, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự. Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội có 4 đại biểu phát biểu ý kiến: đại biểu Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Chiến, Ngọ Duy Hiểu, Đỗ Đức Hồng Hà… bên cạnh đó còn rất nhiều đại biểu trong Đoàn đăng ký nhưng chưa được phát biểu như đại biểu Đào Thanh Hải, Trần Thị Quốc Khánh, Dương Quang Thành, Đào Tú Hoa…

Ngày 24/5/2017, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự. Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội có 4 đại biểu phát biểu ý kiến: đại biểu Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Chiến, Ngọ Duy Hiểu, Đỗ Đức Hồng Hà… bên cạnh đó còn rất nhiều đại biểu trong Đoàn đăng ký nhưng chưa được phát biểu như đại biểu Đào Thanh Hải, Trần Thị Quốc Khánh, Dương Quang Thành, Đào Tú Hoa…

Các đại biểu đánh giá về cơ bản, Dự thảo lần này đã khắc phục được các lỗi kỹ thuật, bất hợp lý đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, logic trong các quy định của Bộ luật hình sự để có thể áp dụng được trong thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn có một số nội dung cần xem xét, cụ thể ở một số điểm như sau:

* Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS)

Dự án Luật đưa ra hai phương án liên quan đến việc xác định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, tuy nhiên cả hai phương án này đều có điểm chưa hợp lý.

Phương án 1: chưa phù hợp với nguyên tắc xử lý và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, đã mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự cả về những tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng. Ví dụ: Tội cố ý gây thương tích (theo khoản 1 Điều 134).

Phương án 2: phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước ta, đã thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và phù hợp với tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên phương án này:

- Chưa lý giải được tại sao chọn tội này mà không chọn tội khác trong khi có những tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn. Ví dụ: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản (Điều 173) nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174). Hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội khủng bố (Điều 299) nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); …

- Mặt khác, việc không quy định người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội Xâm phạm an ninh quốc gia sẽ dễ bị người khác lợi dụng lứa tuổi này thực hiện tội phạm, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội.

 

ĐB Ngọ Duy Hiểu, Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP Hà Nội phát biểu

* Về Tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158 BLHS).

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 158 BLHS thì người nào “Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ”. Quy định như trên là chưa hợp lý, bởi lẽ:

Nếu theo quy định trên ngoài dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thì chỗ ở hợp pháp là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, (tức là vũ lực + xâm phạm chỗ ở hợp pháp = tội phạm). Điều đó cũng có nghĩa là người nào có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực buộc người khác phải rời chỗ ở không hợp pháp hoặc chưa hợp pháp của họ thì không phạm tội. Trong khi đó theo quy định của pháp luật hiện hành chỉ có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được yêu cầu người khác buộc phải rời khỏi chỗ ở không hợp pháp của họ. Thực tế nước ta hiện nay có rất nhiều trường hợp đã và đang cư trú tại chỗ ở chưa hợp pháp và không hợp pháp. Nếu quy định như dự thảo ở trên thì vô hình dung tạo điều kiện cho việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực buộc những người ở trên phải rời khỏi chỗ ở của họ mà không bị phạm tội.

Do vậy, đề nghị sử dụng cụm từ “chỗ ở hợp pháp” như trong dự thảo mà thay thế bằng cụm từ “chỗ ở”, giống như quy định tại Điều 124 của Bộ luật hình sự năm 1999 là phù hợp.

* Về Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS).

So sánh với quy định tại Điều 182 BLHS năm 1999 thì dự thảo lần này đã quy định tương đối đầy đủ và rõ ràng các hành vi gây ô nhiễm môi trường và các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Ở đây chỉ cần có hành vi xả thải, thải, chôn, lấp các chất thải trên mức độ cho phép là bị xử lý theo quy định của BLHS. Tuy nhiên, hậu quả về thiệt hại vật chất, tính mạng, sức khỏe do các hành vi này gây ra là tất yếu nhưng không được đề cập đến trong điều luật. Mặt khác, Điều 182 BLHS năm 1999 đã có quy định vấn đề này theo tôi là phù hợp nên chúng tôi đề nghị bổ sung thêm dấu hiệu hậu quả về tính mạng, sức khỏe, vật chất vào tội này.

Tại điểm c, đ khoản 1 của điều luật quy định về hành vi xả thải ra môi trường dưới mức quy định đối với nước thải và khí thải tại điểm b, d, đã bị xử lý hành chính hoặc đã bị kết án về tội này thì bị xử lý về hình sự. Tuy nhiên tại điểm a, e, g quy định về hành vi chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật các chất thải khác như chất thải đặc biệt nguy hại, chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy thì điều luật lại không quy định trường hợp chôn, lấp, đổ, thải ở mức thấp hơn và đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án mà còn vi phạm là tội phạm. Đề nghị bổ sung thêm về việc xử lý hình sự đối với trường hợp xả thải dưới mức quy định và đã bị xử phạt hành chính tương tự như điểm c, đ nêu trên.

* Về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS)

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS thì bị coi là phạm tội khi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

Trong khi đó, Điều 138 BLHS quy định Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên đã cấu thành tội phạm.

So sánh 2 hành vi của 2 tội trên thấy rằng, người thực hiện 2 hành vi này cùng là lỗi vô ý nhưng hành vi của người tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có tính nguy hiểm cao hơn so với hành vi vô ý gây thương tích bình thường. Nhưng đối với tội vô ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên thì đã bị truy tố, trong khi đó Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên mới phạm tội theo tôi là chưa tương xứng giữa các điều luật với nhau.

Ngoài ra, đây là tội vô ý và có cấu thành vật chất, hành vi và hậu quả phải có và có mối quan hệ nhân quả, hậu quả xảy ra là yếu tố bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng khoản 4 Điều này quy định trách nhiệm của người tham gia giao thông phải dự báo trước khả năng xảy ra hậu quả “làm chết 03 người trở lên”… là không phù hợp về lý luận và thực tiễn từ trước đến nay chưa bao giờ xảy ra trường hợp này, không thể dự báo trước được để xác định được tỷ lệ thương tích “chuẩn bị xảy ra” là bao nhiêu? có thể làm chết trên 03 người hay dưới 03 người?

 Ngọc Ánh- Thanh Hà

Lượt xem: 172

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.