Quốc hội thảo luận về Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016

Trong quá trình thảo luận, đã có 31 đại biểu QH phát biểu ý kiến và 16 đại biểu tranh luận. Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội có: đại biểu Dương Minh Ánh phát biểu, các đại biểu Ngọ Duy Hiểu, Nguyễn Chiến, Nguyễn Quang Tuấn, Nguyễn Anh Trí cùng tranh luận

Ngày 5-6, Quốc hội (QH) họp phiên toàn thể tại hội trường để thảo luận Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm (ATTP) giai đoạn 2011 - 2016. Đây là một trong những nội dung quan trọng của kỳ họp, được phát thanh và truyền hình trực tiếp để cử tri và nhân dân cả nước theo dõi.

Sau khi QH nghe Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH Phan Xuân Dũng trình bày Báo cáo của Đoàn giám sát của QH về việc thực hiện chính sách, pháp luật về ATTP giai đoạn 2011 - 2016. Sau đó, QH thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về ATTP giai đoạn 2011 - 2016. Nhiều đại biểu nhận định khâu tổ chức thực hiện của các cơ quan quản lý nhà nước là nguyên nhân chính của những tồn tại hạn, chế về ATTP trong thời gian qua.

Điều hành phiên thảo luận, Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển nêu rõ ATTP luôn là vấn đề quan trọng được nhân dân và cử tri đặc biệt quan tâm, việc ban hành các chính sách pháp luật về ATTP và triển khai thực hiện trong thời gian qua còn có những vấn đề nổi lên, vì vậy QH đã lựa chọn nội dung giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về ATTP giai đoạn 2011 - 2016 để tiến hành giám sát tối cao tại Kỳ họp thứ 3. Đây là chuyên đề giám sát rất lớn, quan trọng của QH. 

Đại biểu Nguyễn Quang Tuấn phát biểu

Trong quá trình thảo luận, đã có 31 đại biểu QH phát biểu ý kiến và 16 đại biểu tranh luận. Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội có: đại biểu Dương Minh Ánh phát biểu, các đại biểu Ngọ Duy Hiểu, Nguyễn Chiến, Nguyễn Quang Tuấn, Nguyễn Anh Trí cùng tranh luận. Các phát biểu tập trung vào những nội dung sau: Việc ban hành chính sách, pháp luật của các cấp, ngành về ATTP; thực trạng vệ sinh, ATTP giai đoạn 2011 - 2016; công tác thông tin, giáo dục truyền thông, phổ biến chính sách, pháp luật về ATTP. Đầu tư kinh phí cho công tác quản lý ATTP; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ kiểm định, kiểm nghiệm mẫu, giám định, nghiên cứu khoa học về ATTP; phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP; hệ thống tổ chức quản lý, nhân lực, điều kiện làm việc của các cơ quan quản lý ATTP; công tác quản lý ATTP trong sản xuất, kinh doanh rau, quả tươi sống, chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật; nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến thủy sản; Bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP được ban hành nhằm phục vụ yêu cầu quản lý ATTP;

Việc kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP và giải quyết khiếu nại về lĩnh vực này; các biện pháp kiểm soát ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm. Các giải pháp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực thi chính sách pháp luật về ATTP.

Đại biểu Nguyễn Quang Tuấn tranh luận với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 3 vấn đề:

“Thứ nhất, việc ban hành các văn bản pháp luật, chúng đã có 158 văn bản của Trung ương, 669 văn bản của địa phương, sơ bộ chúng ta ra được 827 văn bản trong 5 năm để định hướng cho các đơn vị, các địa phương quản lý về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong Báo cáo thẩm tra của Quốc hội cho thấy rằng việc chúng ta có quá nhiều văn bản gây chồng chéo, thậm chí rất nhiều văn bản không phù hợp với luật hiện hành thì chúng ta đang thiếu trầm trọng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đây chính là thước đo, chính là công cụ để các cơ sở, các địa phương tiến hành quản lý an toàn thực phẩm. Chúng ta có quá nhiều văn bản nhưng ta lại thiếu phương tiện. Giải pháp gì trong thời gian tới.

Thứ hai, qua thẩm tra có khoảng 1,57 % các cơ sở sản xuất được đạt tiêu chuẩn GAP. Qua báo cáo chúng ta có 11.230 hộ chăn nuôi đã được cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, con số này có vẻ rất lớn nhưng tổng số các đơn vị, các hộ chăn nuôi của chúng ta là 10 triệu người, vậy chúng ta mới đạt được 1/1000 trong tổng số các đơn vị, các cơ sở chăn nuôi giết mổ. Vậy, Bộ trưởng có giải pháp gì trong thời gian tới để ta cải thiện từ 1,57% liên quan đến trồng trọt và 1/1000 liên quan đến chăn nuôi, giết mổ để chúng ta mang lại lòng tin cho người tiêu dùng Việt Nam.

Thứ ba, 97% lượng gia súc, gia cầm tiêu thụ trong nước là do các đơn vị nhỏ, siêu nhỏ, hộ cá nhân mà vấn đề giết mổ không an toàn chúng ta đã được xem rất nhiều các chương trình để ngay trên sàn, gần khu vệ sinh, đặc biệt là vấn đề bảo quản, vận chuyển hết sức thô sơ trong thời tiết nắng nóng như hiện nay 40-41 độ thì thực phẩm không thể đảm bảo vệ sinh an toàn, đây chính là nguồn quan trọng để gây ra ngộ độc cấp tính của thực phẩm. Giải pháp của vấn đề nêu trên.”

Đại biểu Nguyễn Chiến cho rằng thực trạng hiện nay phân bón giả đang tràn lan, làm cho sản phẩm không những mất mùa về thiên tai lại còn mất mùa bởi chính phân bón giả. Đặc biệt, quan tâm đến phân bón giả đã tạo ra một chất đất bị ô nhiễm, phân bón giả cũng như thuốc diệt sâu, diệt cỏ không phù hợp đã tạo ra nguồn nước bị ô nhiễm. Sản phẩm nông nghiệp của chúng ta là được hình thành bởi chất đất, nguồn nước tưới tiêu, nhưng 2 nguồn này lại ô nhiễm bởi những kim loại nặng như chì, thủy ngân, asel v.v... Nếu như chúng ta chỉ giải quyết ở các khâu giải pháp như các báo cáo đã nêu thì gốc của vấn đề chưa được giải quyết triệt để. Giải pháp nào để giải quyết triệt để đất và nguồn nước để giúp cho sản phẩm sạch của người nông dân từ hạt lúa, từ rau được bảo đảm an toàn và không còn ô nhiễm để bảo đảm cho thực phẩm trong tiêu dùng của đời sống người dân và thực phẩm sạch.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí cho rằng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, phổ biến kiến thức, hướng dẫn cách sử dụng, chế biến và những thông tin đúng, không thổi phồng về an toàn thực phẩm.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí phát biểu

Đại biểu Ngọ Duy Hiểu cho rằng cần phải đánh giá đầy đủ hơn đến trách nhiệm của cán bộ cơ sở. Bí thư, Chủ tịch của cấp huyện, cấp xã, trưởng thôn, bí thư chi bộ, thực sự có trách nhiệm, trăn trở, lăn lộn với địa bàn, địa phương mình thì chắc chắn sẽ giảm thiểu tình trạng vi phạm an toàn thực phẩm. Vì thực tế cho thấy, cán bộ sống trên địa bàn làm việc và quản lý trên địa bàn hơn ai hết biết rõ ở địa bàn mình có gì, ai đang làm gì và làm hợp pháp hay không. Cho nên trong các tài liệu của chúng ta thì cần khẳng định rõ hơn trách nhiệm của cán bộ cấp ủy, chính quyền cơ sở.

Đại biểu Hiểu đề xuất cần phải coi an toàn thực phẩm trở thành vấn đề an ninh thực phẩm và coi đây là một bộ phận của an ninh quốc gia, vì số người chết, số người mắc bệnh, vấn đề giống nòi, sự hùng cường của dân tộc, danh hiệu điểm đến an toàn của Việt Nam chúng ta đang rất lung lay và rất nguy hại. Cần đầu tư hơn nữa tiền, kinh phí, nhân lực và đặc biệt tập trung về công tác chỉ đạo thì chúng ta đầu tư hơn nữa và cũng đừng quá khắt khe khi cho rằng biên chế tăng, vì biên chế tăng để cứu cả dân tộc thì không thấy lý do gì để chúng ta ngần ngại, biên chế giảm ở những nơi yếu, nơi thừa để bổ sung biên chế cho lĩnh vực này, tôi nghĩ chúng ta cần phải làm.

Vấn đề cuối cùng đại biểu Hiểu cho rằng thực tế tư duy cách nghĩ, cách làm hiện nay ở nhiều cán bộ cơ sở, đó là “làm sao cho xuể”, nhiều thế này thì làm thế nào, chùn tay và không tin vào kết quả cuối cùng đang là một trong những cản ngại mà chúng ta cần quan tâm để đẩy hơn nữa, để cả dân tộc quyết tâm như một thời chúng ta đánh Mỹ để cứu dân tộc chúng ta tránh khỏi an toàn thực phẩm bẩn.

Phát biểu giải trình những vấn đề đại biểu quan tâm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường khẳng định, đợt giám sát an toàn thực phẩm này của Quốc hội là một nội dung trúng, đúng, để đáp ứng yêu cầu mong mỏi của toàn hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội hiện nay.

“Vấn đề quản lý an toàn thực phẩm là một trách nhiệm chung của cả hệ thống chúng ta, nhưng các bộ có trách nhiệm quản lý trực tiếp phải cố gắng theo và sau khi Quốc hội ban hành nghị quyết chuyên đề về chương trình giám sát này thì chúng tôi sẽ bám vào đó để xây dựng kế hoạch chi tiết, hoàn thiện tiếp các thể chế, các nghị định để trình Chính phủ, các thông tư. Mặt khác, tổ chức rà soát cơ quan, tổ chức của mình để thực thi pháp luật từ Trung ương hướng đến các địa phương và tăng cường phối hợp liên ngành cũng như phối hợp với địa phương để cố gắng thực hiện tốt nhất trách nhiệm phân công, góp phần xây dựng một nền sản xuất, cũng như nền chế biến thực phẩm đảm bảo an toàn, sạch để phục vụ nhân dân và phục vụ nền sản xuất hàng hóa trong hội nhập của chúng ta”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

Phát biểu giải trình những vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, trong đó có vấn đề khái niệm "người tiêu dùng thông thái", Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: Phải thiết lập hệ thống dựa trên quy chuẩn, tiêu chuẩn để phân biệt thực phẩm nào an toàn, thực phẩm nào không an toàn. Việc này cần huy động hệ thống phòng thí nghiệm đo các doanh nghiệp, ai đạt tiêu chuẩn thì đưa vào mạng lưới này. Ngoài ra, tăng cường đầu tư trang thiết bị kiểm định, kiểm chuẩn ở các chợ, siêu thị để người dân khi nhìn bằng mắt thường không phân biệt được thì có điều kiện xác định thực phẩm đó có an toàn hay không.

An toàn thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Vì vậy, ngoài biện pháp ban hành chế tài xử lý nghiêm trường hợp vi phạm, thì chính quyền địa phương cả nước phải tăng cường công tác tuyên truyền cho người sản xuất nâng cao ý thức để cung cấp ra thị trường những thực phẩm sạch từ đồng ruộng đến bàn ăn.

NGỌC ÁNH

Lượt xem: 343

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.