Quốc hội thông qua Nghị quyết về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai

Nghị quyết gồm 4 điều, đưa ra các nhiệm vụ, biện pháp cụ thể để tạo chuyển biến căn bản, không để xảy ra oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

Chiều 26/6, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

Nghị quyết gồm 4 điều, đưa ra các nhiệm vụ, biện pháp cụ thể để tạo chuyển biến căn bản, không để xảy ra oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

Chủ tịch Quốc hội phát biểu về phòng chống oan sai

Quốc hội ghi nhận, đánh giá cao sự cố gắng, tích cực của Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; về cơ bản đã bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra một số vụ oan, sai, có vụ nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận; có một số trường hợp còn chậm bồi thường cho người bị thiệt hại. So với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì việc phòng, chống oan, sai còn hạn chế, bất cập.

Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện tốt một số nhiệm vụ, biện pháp cụ thể.

Thứ nhất, Chỉ đạo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án các cấp tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác tư pháp, các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội và tranh tụng trong xét xử; chấp hành nghiêm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự. Khi đã xác định có oan, sai thì phải kịp thời minh oan cho người bị oan, bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định pháp luật; xử lý nghiêm minh và xem xét trách nhiệm hoàn trả theo Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với người mắc sai phạm; xử lý trách nhiệm liên đới của người đứng đầu cơ quan gây nên oan, sai, để xảy ra bức cung, dùng nhục hình.

Thứ hai, Chỉ đạo Cơ quan điều tra các cấp chủ động, tích cực điều tra, khám phá kịp thời các loại tội phạm; áp dụng các biện pháp ngăn chặn chính xác để giảm tối đa các trường hợp bắt, tạm giữ hình sự sau đó chuyển xử lý hành chính; không để xảy ra bức cung, dùng nhục hình; không để xảy ra các trường hợp chết do tự sát, chết do can phạm đánh nhau tại cơ sở giam giữ và làm rõ trách nhiệm của cán bộ trực tiếp quản lý và người đứng đầu cơ sở này.

Quá trình điều tra, lập hồ sơ vụ án phải tuân thủ đúng pháp luật, thu thập, đánh giá đầy đủ, khách quan các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội để xác định đúng sự thật vụ án; khắc phục việc làm oan người vô tội do hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế; chấn chỉnh việc đình chỉ điều tra không đúng pháp luật để tránh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia các vụ án theo quy định pháp luật.

Chỉ đạo các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện nghiêm thẩm quyền tố tụng do luật định; khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm do hành chính hóa các quan hệ hình sự, nâng cao chất lượng điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền, bảo đảm không để xảy ra oan, sai. Bộ Công an sớm hoàn thiện, ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình điều tra các loại án, về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, nhất là đối với các vụ án giết người, hiếp dâm không quả tang; tiếp tục triển khai có hiệu quả các biện pháp chống bức cung, dùng nhục hình. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cần giao cho Cơ quan điều tra Bộ Công an thụ lý, giải quyết các vụ án mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án có hiệu lực pháp luật kết án bị cáo hình phạt chung thân hoặc tử hình để điều tra lại.

Thứ ba, Chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về thực hành quyền công tố gắn với hoạt động điều tra và kiểm sát hoạt động tư pháp; phối hợp chặt chẽ, kịp thời với các cơ quan có thẩm quyền điều tra trong xử lý tội phạm; bảo đảm việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra oan, sai; khắc phục tình trạng buông lỏng trách nhiệm, thống nhất một chiều với Cơ quan điều tra trong phân loại, xử lý vụ án; chấn chỉnh việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án không đúng pháp luật; tăng cường trách nhiệm công tố, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự; kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là đơn kêu oan, đơn tố cáo bức cung, nhục hình.

Thứ tư, Chỉ đạo Tòa án các cấp thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về quyền tư pháp và nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm tranh tụng trong xét xử, tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự, bảo đảm các bản án, quyết định hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra trường hợp kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; kiên quyết tuyên bị cáo vô tội trong trường hợp không có căn cứ kết tội; chấn chỉnh, khắc phục việc xử phạt bị cáo quá nặng hoặc quá nhẹ, cho bị cáo hưởng án treo không đúng pháp luật, nhất là đối với các bị cáo phạm tội về kinh tế, chức vụ, tham nhũng.

Tòa án nhân dân tối cao tăng cường tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an tiếp tục rà soát, xem xét, giải quyết dứt điểm các đơn khiếu nại kêu oan, nhất là đơn kêu oan của các bị án có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân, tử hình; nếu có căn cứ pháp luật thì phải xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật, bảo đảm không oan, sai.

Thứ năm, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao theo chức năng, nhiệm vụ của mình chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền sớm kết thúc điều tra, đưa ra truy tố, xét xử lại đối với các vụ án mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án có hiệu lực pháp luật để điều tra lại; khẩn trương giải quyết các vụ án đã quá hạn luật định, xử lý dứt điểm những vụ án đã kéo dài trên 05 năm và một số vụ án khác dư luận cử tri quan tâm; minh oan và giải quyết bồi thường kịp thời cho người bị oan đã có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại; có giải pháp hiệu quả tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm công vụ cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; kiên quyết loại bỏ khỏi bộ máy những cán bộ yếu kém về đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ; xem xét, điều chuyển biên chế phù hợp cho các địa phương xảy ra nhiều án, tránh áp lực quá nhiều công việc dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

Thứ sáu, Liên Đoàn luật sư Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việc đào tạo, phát triển nhanh đội ngũ luật sư, nâng cao tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của luật sư; giám sát Luật sư trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện tốt trách nhiệm bào chữa, cung cấp dịch vụ pháp lý, nhất là đối với những trường hợp bào chữa chỉ định theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tố tụng.

Thứ bảy, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành chức năng tăng cường công tác quản lý, đào tạo cán bộ để nâng cao chất lượng công tác giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, giám định tài chính, ngân hàng, xây dựng, giao thông… đồng thời sớm hoàn thiện, ban hành quy trình, quy chuẩn giám định trong các lĩnh vực này, tạo cơ sở tin cậy cho cơ quan tố tụng xem xét, quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ tám, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các bộ, ngành liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình khẩn trương rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự đã ban hành; chậm nhất đến tháng 12/2015 phải hoàn thành việc sửa đổi Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn về giám định “hàm lượng” các chất nghi là ma túy và Công văn số 234/TANDTC ngày 17/9/2014 của Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Tòa án các địa phương khi xét xử các vụ án về ma túy buộc phải có giám định “hàm lượng” các chất nghi là ma túy; Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNNPTNT ngày 02/11/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn về phạm vi các trường hợp được bồi thường thiệt hại, bảo đảm phù hợp với Bộ luật hình sự, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; đề xuất với Quốc hội sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan để phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại.

Cuối cùng, Chính phủ đầu tư kinh phí để nâng cấp trang thiết bị cho hoạt động điều tra, khám nghiệm hiện trường, giám định tư pháp, nhất là các thiết bị ghi âm, ghi hình để ghi nhận chứng cứ, chống bức cung, dùng nhục hình; có lộ trình, kế hoạch cụ thể để nâng cấp kịp thời các cơ sở giam giữ đã xuống cấp nghiêm trọng hoặc quá tải về giam giữ; tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp, trước hết tại các nơi vẫn đang phải thuê, mượn trụ sở làm việc.

DUY LINH

Lượt xem: 422

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.