Thảo luận dự án Luật Quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng - Đại biểu Bùi Thị An đồng tình với việc nâng hạn tuổi phục vụ tại ngũ

Phát biểu tại phiên thảo luận Đại biểu Bùi Thị An và nhiều đại biểu khác đồng tình với việc nâng hạn tuổi phục vụ tại ngũ để đảm bảo nguồn nhân lực cho quân đội, giảm chi phí đào tạo thay thế số quân nhân chuyên nghiệp thôi phục vụ tại ngũ và phát huy được trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn của quân nhân chuyên nghiệp còn đủ sức khỏe; đồng thời khắc phục tình trạng hằng năm phải kéo dài độ tuổi phục vụ tại ngũ với số lượng lớn.

Chiều 12/11/2015 Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng.

Đa số đại biểu nhất trí về sự cần thiết ban hành Dự án Luật quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng. Dự thảo cơ bản đã xác định rõ vị trí, chức năng của quân nhân, viên chức quốc phòng. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị cần làm rõ chế độ phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp là chế độ tự nguyện và chế độ phục vụ của quân nhân, viên chức quốc phòng là chế độ tuyển dụng; cần nêu rõ các tiêu chí để phân biệt công nhân quốc phòng với người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng tại các cơ sở này; phân biệt giữa viên chức quốc phòng với viên chức nhà nước vì cho rằng, có một số quy định đối với quân nhân, viên chức quốc phòng tại dự thảo Luật chưa thống nhất với Luật viên chức.

Đại biểu Bùi Thị An phát biểu (Ảnh quochoi.vn)

Đa số ý kiến cho rằng, cấp bậc quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp được xác định tương ứng với trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và mức lương để đáp ứng yêu cầu công tác phục vụ, bảo đảm chỉ huy, quản lý trong Quân đội nhân dân; quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vinh dự, trách nhiệm của quân nhân, đồng thời là yếu tố để xây dựng hệ thống chính sách phù hợp theo cấp bậc quân hàm. Do vậy, một số ý kiến đề nghị bổ sung quy định cấp bậc quân hàm Đại tá quân nhân chuyên nghiệp cho người có thành tích đặc biệt xuất sắc hoặc có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ quân đội, không nên bó hẹp ở cấp quân hàm cao nhất là thượng tá cũng như độ tuổi tối đa cho quân nhân chuyên nghiệp vì những người này vẫn có khả năng cống hiến.

Phát biểu tại phiên thảo luận Đại biểu Bùi Thị An và nhiều đại biểu khác đồng tình với việc nâng hạn tuổi phục vụ tại ngũ để đảm bảo nguồn nhân lực cho quân đội, giảm chi phí đào tạo thay thế số quân nhân chuyên nghiệp thôi phục vụ tại ngũ và phát huy được trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn của quân nhân chuyên nghiệp còn đủ sức khỏe; đồng thời khắc phục tình trạng hằng năm phải kéo dài độ tuổi phục vụ tại ngũ với số lượng lớn.

Theo các đại biểu, độ tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất đối với cấp úy quân nhân chuyên nghiệp là 52 tuổi; cấp thiếu tá, trung tá quân nhân chuyên nghiệp là 54 tuổi. Công nhân, viên chức quốc phòng nam đủ 60 tuổi, nữ 55 tuổi

Với độ tuổi như vậy cũng sẽ đảm bảo theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội vì nếu theo quy định hiện hành, công nhân, viên chức quốc phòng không đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu là 75%. Đại biểu Bùi Thị An cho rằng “Việc quy định quân nhân chuyên nghiệp được nghỉ hưu ở tuổi 50 trở xuống khi tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe phục vụ, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ giỏi, đang cần cho quân đội sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của quân đội”. Ngoài các nội dung trên các đại biểu Quốc hội cũng cho ý kiến vào những nội dung khác của dự thảo Luật như về tên gọi, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, sự phù hợp với Hiến pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật…

Hoài Thương

Lượt xem: 339

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.