Thảo luận tại Hội trường về sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Sơn, Phó Chánh án TAND Tối cao, đại biểu Đoàn Hà Nội nhất trí cao các nội dung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân thể hiện tại Điều 2 của dự thảo Luật vì theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực Nhà nước là thống nhất theo sự phân công, phối hợp theo sự phân công kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ngày 27-10-2014, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi).

Đại biểu Đinh Xuân Thảo trả lời phỏng vấn báo chí tại Kỳ họp thứ 8

Đã có 17 đại biểu Quốc hội phát biểu. Các ý kiến thảo luận tập trung vào những nội dung: Phạm vi điều chỉnh của Luật; chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân, trong đó có chức năng, nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp đảm bảo phù hợp với Hiến pháp; tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân; tổ chức các Tòa án chuyên trách tại Tòa án nhân dân; các ngạch Thẩm phán; nhiệm kỳ của Thẩm phán; điều kiện, tiêu chuẩn, cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán; nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia; nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn Hội thẩm; thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm; chế độ, chính sách đối với Hội thẩm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân đối với Hội thẩm…

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Sơn, Phó Chánh án TAND Tối cao, đại biểu Đoàn Hà Nội nhất trí cao các nội dung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân thể hiện tại Điều 2 của dự thảo Luật vì theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực Nhà nước là thống nhất theo sự phân công, phối hợp theo sự phân công kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết luận số 92 ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị cũng đặt yêu cầu nghiên cứu xác định rõ nội hàm quyền tư pháp xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các hoạt động tư pháp. Vì vậy, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp xây dựng một thể chế đúng, đủ, chính xác chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, tạo cơ sở pháp lý cho tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang là sự quan tâm, mong đợi của nhân dân và cộng đồng quốc tế.

Đại biểu đề nghị viết lại điểm c khoản 3 Điểu 2 như sau: “Trả hồ sơ, yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự điều tra xác minh thu thập chứng cứ, khắc phục những việc điều tra sai, truy tố sai.”.

 Góp ý về quản lý Tòa án về tổ chức (Điều 18) đại biểu  Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội, đại biểu Đoàn Hà Nội đề nghị quy định cụ thể việc quản lý tòa án về tổ chức theo nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước, thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thông qua các Văn phòng của các tòa án từ Tòa án nhân dân tối cao đến Tòa án nhân dân cấp huyện để thực hiện. Theo đó bổ sung Khoản 1 Điều 18 như sau: "Tòa án nhân dân tối cao quản lý các tòa án nhân dân về tổ chức theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước".

Về tính thống nhất giữa các dự thảo luật: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Đại biểu đề nghị Ban sọan thảo nghiên cứu quy định thống nhất, vì Luật tổ chức Quốc hội và Luật tổ chức Chính phủ quy định về quan hệ phối hợp công tác. Dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân và dự thảo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân không quy định về quan hệ, phối hợp công tác giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và tại 2 dự thảo Luật đều quy định một chương bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân và của Viện kiểm sát nhân dân, trong đó có quy định việc quyết định biên chế của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhưng trong dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội không quy định nội dung này và dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ quy định tại Điều 20, Khoản 4 "Chính phủ thống nhất quản lý biên chế công chức, biên chế sự nghiệp và các cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương". Tại Khoản 5 quy định: "Chính phủ thống nhất quản lý các tổ chức, biên chế, tiền lương, phụ cấp ... từ trung ương đến địa phương" là phù hợp với Khoản 5, Điều 96 của Hiến pháp năm 2013.

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 381

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.