Thảo luận tổ tại Đoàn ĐBQH TP Hà Nội: Còn nhiều băn khoăn về chế định thừa phát lại

Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội không tán thành thí điểm chế định thừa phát lại và cho rằng Báo cáo chưa đầy đủ, mục đích của thừa phát lại là giảm áp lực cho cơ quan thi hành án chưa đạt được. Dự thảo Nghị quyết chưa quy định trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại khi không hoàn thành nhiệm vụ…

Chiều 9/11, tiếp tục chương trình làm việc kỳ họp thứ 10, các đại biểu Quốc hội làm việc tại tổ, thảo luận về tổng kết việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội và dự thảo Nghị quyết về thực hiện chế định Thừa phát lại.

Đại biểu Đoàn ĐBQH TP Hà Nội thảo luận tại tổ

Theo báo cáo Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội, hoạt động thừa phát lại đã xác định được vị trí của mình trong đời sống xã hội, tạo lập một loại hình dịch vụ pháp lý mới để người dân lựa chọn. Sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng hoạt động của các văn phòng thừa phát lại khẳng định chủ trương và nội dung thí điểm đã thành công bước đầu, nhất là trong điều kiện các loại hình dịch vụ thừa phát lại cung cấp có tính chất khá mới so với hệ thống pháp luật hiện hành.

Kết quả công việc do thừa phát lại thực hiện cụ thể: về tống đạt văn bản, tại các địa bàn trọng điểm có số lượng án lớn, việc cung cấp dịch vụ này đã hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, tạo điều kiện cho cơ quan này tập trung nhân lực cho nhiệm vụ chính.

Về lập vi bằng, đã đáp ứng yêu cầu ngày càng nhiều của người dân trong đời sống dân sự, giúp người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Điều này cũng phù hợp với chủ trương sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng mở rộng quyền thu thập chứng cứ của đương sự và mở rộng nguồn chứng cứ.

Về xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án, mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng cũng đã thể hiện những ưu điểm nhất định như tiện lợi cho người dân lựa chọn cơ quan thi hành án của Nhà nước hoặc thừa phát lại; hạn chế bớt căng thẳng giữa các bên đương sự trong quá trình thi hành án, giúp tinh giản biên chế, kinh phí từ ngân sách nhà nước theo các chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Phân tích về những mặt còn hạn chế, một số ý kiến cho rằng qua hai giai đoạn thực hiện thí điểm, công tác tham mưu cho Chính phủ của Bộ Tư pháp cũng như phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong việc triển khai Nghị quyết của Quốc hội chậm, thiếu đồng bộ; một số quy định được ban hành không phù hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thừa phát lại. Đây là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả và khó tạo ra sự đồng thuận của các cơ quan đối với hoạt động thừa phát lại.

Đại biểu Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp tán thành với đa số ý kiến của Ủy ban Tư pháp. Theo đó, đề nghị Quốc hội ban hành nghị quyết cho chấm dứt thí điểm, công nhận kết quả thí điểm và tính pháp lý của các tổ chức thừa phát lại đã thành lập, xác định rõ các tổ chức thừa phát lại tiếp tục hoạt động theo quy định hiện hành của Chính phủ từ ngày 1/1/2016 cho đến khi Quốc hội ban hành Luật thừa phát lại.

Đại biểu Nguyễn Sơn, Phó Chánh án TAND Tối cao cho rằng, thực chất Nghị quyết 36 của Quốc hội mới được thực hiện hơn một năm, kinh phí Chính phủ hỗ trợ cho Tòa án và thi hành án thực hiện, trong đó Tòa án là tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, thi hành án là xác minh điều kiện thi hành án. Việc tổ chức thi hành án và lập vi bằng là có thu tiền, tổ chức thừa phát lại được xác định là tổ chức tư nhân hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, hiện nay đang tổ chức thí điểm thì Nhà nước cấp kinh phí. Về tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án là hoạt động của nhà nước tại sao không cho khoản kinh phí cho Tòa án hoặc thi hành án để thực hiện nhiệm vụ này mà phải ký hợp đồng đối với các tổ chức tư nhân thực hiện. Nếu không tổ chức thí điểm nữa thì kinh phí Nhà nước có cấp nữa không.

Đại biểu Đỗ Kim Tuyến, Trung tướng, Tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an băn khoăn trước việc các địa phương chưa mặn mà với chế định thừa phát lại, qua báo cáo việc thực hiện chế định thừa phát lại hiệu quả chưa cao, báo cáo đánh giá tồn tại nhiều hơn, việc xác minh thực hiện rất ít mà mục tiêu để giảm bớt áp lực cho cơ quan thi hành án thì chưa đạt được. Nếu triển khai tiếp tục thực hiện, đề nghị cân nhắc thẩm quyền xác minh, thẩm quyền cưỡng chế, vì cưỡng chế phải là hoạt động của các cơ quan nhà nước, có nguyên tắc riêng,nếu để các tổ chức tư nhân làm dẫn đến có trường hợp sử dụng xã hội đen cưỡng chế.

Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội không tán thành thí điểm chế định thừa phát lại và cho rằng Báo cáo chưa đầy đủ, mục đích của thừa phát lại là giảm áp lực cho cơ quan thi hành án chưa đạt được. Dự thảo Nghị quyết chưa quy định trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại khi không hoàn thành nhiệm vụ…

Hoài Thương

Lượt xem: 444

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.