Thảo luận tổ về dự thảo Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật: Thiếu chế tài kiểm dịch thực vật

Đại biểu Trịnh Thế Khiết cho rằng chính sách về KDTV trong Dự thảo Luật BV&KDTV chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cả về máy móc, thiết bị cũng như con người, thì người tiêu dùng vẫn cứ phải mua thực phẩm và “vừa ăn, vừa lo”. Việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, có nguy cơ trở nên “đuối sức” trước những diễn biến ngày càng phức tạp trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, xuất nhập các mặt hàng nông sản…

                Tình trạng rau quả Trung Quốc đang tràn ngập ở các chợ đầu mối, chợ cóc ở Hà Nội không chỉ làm hạn chế sức tiêu thụ của nông sản Việt Nam mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Thế nhưng, việc phân công trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành trong Dự thảo Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (BV&KDTV) chưa rõ ràng, các quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong BV&KDTV thiếu tính khả thi. Đó là nhận định của không ít ĐBQH trong Đoàn Hà Nội khi thảo luận ở tổ ngày 31- 5 về Dự thảo LBV&KDTV.

Đại biểu thảo luận tổ ngày 31-5

Mới dừng ở hô hào khẩu hiệu

Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (Đoàn Hà Nội) khẳng định, hiện nay, chất lượng nông sản Trung Quốc luôn có vấn đề về tính an toàn. Cơ quan chức năng của Nhà nước này đã nhiều lần phát hiện một số loại nho, cải thảo… bị nhiễm hóa chất cấm, độc hại. Thế nhưng, tại các chợ rau, quả đầu mối của Hà Nội như Long Biên, Cầu Giấy, Hà Đông... đều tràn ngập các loại rau, củ, quả Trung Quốc có mẫu mã đẹp, giá cả phải chăng, lại dễ bảo quản. Số hàng này thường được các thương nhân giới thiệu xuất xứ ở Đà Lạt, Lào Cai nên người tiêu dùng rất ưa chuộng. Rất ít khách hàng có đủ trình độ, kiến thức để xác định, đó chỉ là hàng Trung Quốc. Thế nhưng, không thấy bất kể một cơ quan nào đứng ra phân tích chất lượng. Mùa nào thức ấy, rau quả Trung Quốc qua biên giới đổ về khắp các tỉnh, dù là miền núi hay thành thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, từ củ tỏi, nhánh gừng, măng chua đến các loại nấm, hoa quả và bày bán tràn lan không chỉ ở các chợ, mà xuất hiện cả ở siêu thị. Dù tất cả các nông sản ấy trong nước cũng sản xuất được, thậm chí dư thừa, vào vụ phải bán giá rẻ.

Để khắc phục tình trạng này, Dự thảo Luật BV&KDTV nêu rõ: hàng hóa có nguồn gốc thực vật nhập khẩu trước khi nhập vào Việt Nam phải phân tích nguy cơ dịch hại. Căn cứ vào kết quả phân tích, cơ quan KDTV quyết định cho phép nhập khẩu hay không. Đồng thời, Ban soạn thảo cũng đưa ra một loạt hành vi bị nghiêm cấm nhằm kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm an toàn thực phẩm. Thế nhưng, theo đại biểu Trần Thị Quốc Khánh, mọi điều khoản mới chỉ dừng lại ở việc hô hào khẩu hiệu. Đang thiếu cả nhân vật lực triển khai, thiếu cả chế tài xử lý.

Chưa rõ ràng trách nhiệm

Cùng chung quan điểm trên, đại biểu Trịnh Thế Khiết Chủ tịch Hội Nông dân TP Hà Nội nhận định, khâu yếu nhất trong chuỗi kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm nông sản hiện nay nằm ở khâu quản lý. Kiểm dịch nội địa yếu kém, không những về phương tiện mà con người. Trong khi chính sách về KDTV trong Dự thảo Luật BV&KDTV chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cả về máy móc, thiết bị cũng như con người thì người tiêu dùng vẫn cứ phải mua thực phẩm và “vừa ăn, vừa lo”. Việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, có nguy cơ trở nên “đuối sức” trước những diễn biến ngày càng phức tạp trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, xuất nhập các mặt hàng nông sản…

Đình Hoàng

Lượt xem: 382

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.