Thảo luận về một số nội dung của dự thảo Luật nghĩa vụ quân sự

Nhất trí với dự thảo Luật là “Công dân đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi; công dân đào tạo trình độ đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết hai mươi bảy tuổi,” đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận) cho rằng: Dự thảo luật quy định như vậy bảo đảm mọi người đều bình đẳng trước pháp luật về thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Hiến pháp; đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, bảo đảm nguồn nhân lực cho bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XIII, chiều 21/5, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi).

Còn ý kiến khác nhau về độ tuổi gọi nhập ngũ

Qua thảo luận, nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội cơ bản tán thành với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng thời, các đại biểu Quốc hội đã góp ý trực tiếp và làm rõ thêm một số nội dung của dự thảo Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang Ngô Minh Tiến phát biểu ý kiến. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Nội dung nhận được nhiều ý kiến đại biểu quan tâm là độ tuổi gọi nhập ngũ (Điều 31).

Nhất trí với dự thảo Luật là “Công dân đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi; công dân đào tạo trình độ đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết hai mươi bảy tuổi,” đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận) cho rằng: Dự thảo luật quy định như vậy bảo đảm mọi người đều bình đẳng trước pháp luật về thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Hiến pháp; đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, bảo đảm nguồn nhân lực cho bảo vệ Tổ quốc.

Đại biểu Huỳnh Văn Tính (Tiền Giang) lại cho rằng nội dung quy định tại điều này chưa hoàn toàn phù hợp. Theo đại biểu Tính: Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của mỗi công dân Việt Nam. Do đó, cần tạo thuận lợi cho công dân Việt Nam đủ điều kiện tham gia nghĩa vụ quân sự. Trong thời bình mỗi người đủ điều kiện tham gia nghĩa vụ quân sự chỉ nhập ngũ một lần và thời gian tại ngũ là 24 tháng.

Việc quy định về độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 đến 27 tuổi là phù hợp. Bởi, độ tuổi này còn trẻ và hội tụ điều kiện tốt nhất để công dân phục vụ quân đội, góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc phòng.

Mặt khác, việc quy định thực hiện nghĩa vụ quân sự đến 27 tuổi, nhằm tạo điều kiện cho tất cả các trường hợp được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự, khi không còn thuộc trường hợp tạm hoãn thì phải thực hiện nghĩa vụ. Quy định như vậy, vừa đảm bảo nguyên tắc công bằng, vừa tạo điều kiện cho tất cả những người đã được tạm hoãn theo quy định, khi hết lý do tạm hoãn thì thực hiện nghĩa vụ quân sự, chứ không chỉ áp dụng riêng đối với trường hợp tạm hoãn là đang học đại học chính quy như dự thảo luật.

Cũng góp ý về độ tuổi gọi nhập ngũ, đại biểu Nguyễn Văn Cảnh (Bình Định) đề nghị giữ nguyên độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến 25 tuổi như hiện hành và không quy định nội dung là đối với công dân đào tạo trình độ đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

Đại biểu Cảnh cho rằng kể cả sinh viên y khoa với khóa học 6 năm, khi ra trường cũng chưa tới 25 tuổi; chỉ có một số rất ít sinh viên ra trường là quá 25 tuổi. Theo đại biểu, không vì số ít mà điều chỉnh từ 25 tuổi lên 27 tuổi.

Bảo đảm sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự

Một trong những nội dung nữa nhận được ý kiến của đại biểu Quốc hội là về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ (Điều 42). Đại biểu Nguyễn Hoài Phương (Tây Ninh) cho rằng: Khoản 4, Điều 42, quy định “Danh sách công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban Nhân dân cấp xã,” là chưa thống nhất với Điều 15 của dự thảo Luật; đồng thời chưa đảm bảo yêu cầu chặt chẽ về sự công khai, minh bạch, bởi ở đâu đó, địa phương này, địa phương khác vẫn còn nhiều dư luận về vấn đề tiêu cực trong việc tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Theo đại biểu Phương nên sửa đổi Điều 42 theo hướng bổ sung: “Công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được công khai tại trụ sở Ủy ban Nhân dân cấp xã, trụ sở cơ quan, tổ chức nơi công dân công tác.”

Góp ý về vấn đề trên, đại biểu Huỳnh Văn Tính cho rằng: Tại điểm g, khoản 1, Điều 42, dự thảo Luật quy định "Đang đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân trong thời gian một khóa đào tạo,” nhưng có trường đại học lại đào tạo theo tín chỉ kéo dài đến 6 đến 7 năm hoặc cho phép sinh viên học song song hai chương trình trong một khóa đào tạo. Như vậy, quy định thế này sẽ tạo cho một số công dân lợi dụng chính sách tạm hoãn gọi nhập ngũ để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Đại biểu Tính đề nghị, Ban soạn thảo cần nghiên cứu kỹ các quy định hiện hành của Luật giáo dục đại học để bảo đảm sự thống nhất chung, tránh sự chồng chéo quy định giữa hai luật; đảm bảo quyền cơ bản của công dân trong việc học tập và thực hiện nghĩa vụ quân sự. Theo đó, cần bổ sung vào cuối điểm g, khoản 1, Điều 42, cụm từ “của một trình độ đào tạo.”

Cũng góp ý về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ (Điều 42), đại biểu Đặng Thị Kim Chi (Phú Yên) đề nghị dự thảo luật cần quy định cụ thể trường hợp công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ do đang học đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân ngay khi tốt nghiệp thì gọi nhập ngũ ngay. Nếu để công dân đi làm 1 năm, 2 năm mới gọi thì sẽ gây khó khăn cho công dân.

Ngoài không nội dung trên, đại biểu Quốc hội cũng đã thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) như Nghĩa vụ quân sự; quyền và nghĩa vụ của hạ sỹ quan, binh sỹ; cơ sở dữ liệu nghĩa vụ quân sự; công dân nữ phục vụ tại ngũ; đăng ký nghĩa vụ quân sự; thủ tục gọi nhập ngũ; kiểm tra khám sức khỏe; Hội đồng nghĩa vụ quân sự....

Theo TTXVN

Lượt xem: 442

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.