Thủ tướng Chính phủ trả lời chất vấn của ĐBQH Bùi Thị An về đảm bảo đời sống cho vùng di dân Thủy điện Hòa Bình

Trả lời chất vấn của đại biểu, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải thay mặt Thủ tướng có văn bản số 54/TTg-KTN ngày 07/01/2016 gửi tới đại biểu Bùi Thị An và Đoàn ĐBQH TP Hà Nội. Theo đó, Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình được xây dựng tại tỉnh Hòa Bình từ năm 1976 đến năm 1991, việc di chuyển dân vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình được triển khai trên địa bàn 02 tỉnh Sơn La và Hòa Bình. Đến nay, có 71.066 hộ tái định cư và hộ bị ảnh hưởng thuộc 86 xã, 14 huyện thị, thành phố.

Thực hiện hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội, đại biểu Bùi Thị An, Đoàn ĐBQH TP Hà Nội đã gửi tới Thủ tướng Chính phủ câu hỏi chất vấn với nội dung: Xin Thủ tướng Chính phủ cho biết bao giờ Chính phủ có phương án hỗ trợ một cách dứt điểm cho đồng bào tái định cư của Vùng Thủy điện Hòa Bình.

Thủy điện Hòa Bình (Ảnh minh họa)

Trả lời chất vấn của đại biểu, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải thay mặt Thủ tướng có văn bản số 54/TTg-KTN ngày 07/01/2016 gửi tới đại biểu Bùi Thị An và Đoàn ĐBQH TP Hà Nội. Theo đó, Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình được xây dựng tại tỉnh Hòa Bình từ năm 1976 đến năm 1991, việc di chuyển dân vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình được triển khai trên địa bàn 02 tỉnh Sơn La và Hòa Bình. Đến nay, có 71.066 hộ tái định cư và hộ bị ảnh hưởng thuộc 86 xã, 14 huyện thị, thành phố. Trong đó: Vùng chuyển dân sông Đà thuỷ điện Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình, bao gồm 36 xã, phường của 5 huyện (Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Cao Phong, Kim Bôi) và thành phố Hoà Bình được bố trí tập trung hoặc xen ghép tại 36 xã, phường với tổng số 16.913 hộ; Vùng chuyển dân sông Đà thủy điện Hòa Bình, tỉnh Sơn La, bao gồm 50 xã và 2 thị trấn thuộc 6 huyện (Phù Yên, Mộc Châu, Bắc Yên, Mường La, Mai Sơn, Vân Hồ) với số tổng 54.153 hộ.

Để tiếp tục ổn định đời sống và sản xuất cho người dân vùng chuyển dân sông Đà, thủy điện Hoà Bình; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2015 phê duyệt Đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà thủy điện Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2009-2020 (Tổng vốn đầu tư 4.053 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư hỗ trợ sản xuất là 392 tỷ đồng); số 401/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015 Phê duyệt Đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà xây dựng thủy điện Hòa Bình, tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 - 2017 (Tổng vốn đầu tư 1.396,636 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư hỗ trợ sản xuất là 120,4 tỷ đồng), với mục tiêu ổn định nơi ở của các hộ dân, không còn hộ thiếu đất sản xuất và hộ đói, giảm hộ nghèo xuống bằng mức bình quân chung của tỉnh; có nền kinh tế phát triển toàn diện, địa bàn dân cư ổn định, có điều kiện phát triển bền vững, đời sống của người dân được bảo đảm và ngày càng được nâng cao.

Đến nay, UBND các tỉnh Hòa Bình, Sơn La đang tổ chức thực hiện các Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nêu trên.

Toàn văn bản bản trả lời chất vấn xem tại đây

DUY LINH

Lượt xem: 446

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.