Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp Đinh Xuân Thảo: “Phải trưng cầu ý dân những vấn đề hệ trọng”

"Ở các nước, những lĩnh vực thuộc kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại rất quan trọng, liên quan đến người dân đều được đưa ra trưng cầu ý dân", "Luật trưng cầu ý dân rất quan trọng, với Việt Nam đây là luật mới, mặc dù trong Hiến pháp đã quy định rõ việc thực hiện trưng cầu ý dân là hình thức cơ bản nhất để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp"...Viện trưởng Nghiên cứu lập pháp, đại biểu Quốc hội Đoàn ĐBQH TP Hà Nội Đinh Xuân Thảo nói.

"Ở các nước, những lĩnh vực thuộc kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại rất quan trọng, liên quan đến người dân đều được đưa ra trưng cầu ý dân", Viện trưởng Nghiên cứu lập pháp Đinh Xuân Thảo nói.

- Quốc hội sắp thảo luận, cho ý kiến về Luật trưng cầu ý dân. Theo ông luật này có vai trò như thế nào?

- Luật trưng cầu ý dân rất quan trọng, với Việt Nam đây là luật mới, mặc dù trong Hiến pháp đã quy định rõ việc thực hiện trưng cầu ý dân là hình thức cơ bản nhất để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp. Luật này cần xác định ranh giới giữa thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ thông qua đại diện là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; và thực hiện quyền dân chủ trực tiếp. Luật phải xác định phạm vi, việc gì thì sẽ đưa ra để trưng cầu ý dân.

Đại biểu Quốc hội Đinh Xuân Thảo phát biểu tại hội trường

Hiện nay, ở các nước, vấn đề đưa ra lấy ý kiến thường liên quan đến nhà nước và người dân. Các nước nếu như muốn giữ lại cái cũ (tính bảo thủ như ở Anh), người ta phải quy định chặt chẽ, trưng cầu ý dân để thay đổi cái cũ sẽ rất khó. Còn nếu muốn theo quan điểm tiến bộ của người dân thì luật trưng cầu ý dân phải quy định tạo điều kiện để việc trưng cầu dễ dàng, có thể tổ chức được thường xuyên, không hạn chế, có thể dễ đạt được ý muốn của người dân.

- Trưng cầu ý dân nên làm trong phạm vi cả nước hay chỉ theo vùng miền?

- Tôi vừa đi Mỹ, họ cho biết toàn liên bang không có trưng cầu ý dân, mà chỉ trưng cầu ở các tiểu bang. Mỹ cũng hạn chế việc trưng cầu ý dân, vì họ nói kết quả trưng cầu ý dân thường ngược với chủ trương. Hiến pháp Hoa Kỳ cũng không quy định điều này.

Trong dự thảo trưng cầu ý dân của ta có nói "hai lần quá bán", ví dụ cả nước có 100 triệu cử tri, chỉ cần quá 50 triệu tham gia bỏ phiếu là được, và trong số hơn 50 triệu đó chỉ cần 25 triệu thông qua là được. Như vậy "hai lần quá bán" cũng chỉ có 25% của tổng số cử tri cả nước. Khi tôi trao đổi với một giáo sư, Trưởng khoa luật của Đại học Tổng hợp Lomonoxop, ông ấy khuyên ta nếu quy định "2 lần quá bán" thì kết quả đạt được rất hình thức, lại không đại diện cho tuyệt đại đa số ý kiến của cử tri và nhân dân cả nước.

Bản Hiến pháp 1993 hiện hành của Nga, đưa ra trưng cầu, tổng số cử tri Nga hơn 100 triệu, trong khi đó số người tham gia bỏ phiếu 59 triệu (quá bán), trong đó có 32 triệu đồng tình, 27 triệu không đồng tình, như vậy là đồng tình quá bán, bản hiến pháp đó có hiệu lực. Nhưng 47 triệu cử tri không đi bỏ phiếu, nếu đứng về phía 32 triệu kia thì tốt, nhưng nếu đứng về phía 27 triệu thì số người không đồng tình lại là đại đa số. Ông viện sĩ cho rằng, thông thường những người ủng hộ thì đi bầu, còn người không ủng hộ thì không đi bỏ phiếu. Điều này chúng ta cần cân nhắc.

- Khi nào và lĩnh vực nào cần đưa ra trưng cầu ý dân?

- Đây là cái vướng nhất trong luật này. Kinh nghiệm của các nước, ví dụ ở Cộng hoà liên bang Đức, Hiến pháp quy định rõ những nội dung không bao giờ được trưng cầu ý dân. Đó là chế độ chính trị trong hiến pháp vì họ cho rằng nó phải ổn định, lâu dài.

Có nước vấn đề thuộc tổ chức bộ máy nhà nước thì không trưng cầu, còn những lĩnh vực thuộc kinh tế xã hội, kể cả an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại... rất quan trọng, liên quan đến người dân thì đưa ra trưng cầu ý dân.

Ngoài ra, những việc liên quan trực tiếp đến người dân, hạn chế quyền của công dân thì phải trưng cầu ý dân vì trong Hiến pháp quy định quyền con người, quyền công dân.

- Tính hiệu lực của trưng cầu ý dân như thế nào, thưa ông?

- Dự thảo nói kết quả thế nào thì công bố như vậy, nhưng vấn đề là công nhận nó như thế nào? Có luồng ý kiến nói cứ theo đa số, nhưng ý kiến khác lại nói dựa trên cơ sở kết quả trưng cầu dân ý phải có cơ quan xem xét quyết định, ví dụ Quốc hội. Như vậy, kết quả trưng cầu ý dân chỉ mang tính tham khảo, còn Quốc hội mới có quyền đưa ra quyết định cuối cùng.

Giờ nên theo ý kiến nào? Theo tìm hiểu của tôi, ở Ukraina, trước khi xảy ra khủng hoảng, Hiến pháp nước này quy định 3 chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu như Việt Nam là Chủ tịch nước – Tổng thống, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Tổng thống Ukraina đã đề nghị Quốc hội cho trưng cầu ý dân về 3 việc: giảm tổng số đại biểu Quốc hội từ 480 xuống 360 để thực hành tiết kiệm, bỏ tất cả đặc quyền đặc lợi đối với nghị sĩ, Tổng thống có quyền giải tán nghị viện nếu xét thấy cần thiết.

Quốc hội đồng ý tổ chức trưng cầu, kết quả là đa số cử tri ủng hộ theo đề xuất của Tổng thống. Nhưng theo Luật trưng cầu ý dân của Ukraina, kết quả trưng cầu đó phải đưa ra Quốc hội, để Quốc hội quyết định. Và khi đưa ra thì Quốc hội không nghe, không được đa số đồng tình, nên cuộc trưng cầu đó kết quả bằng không. Đây là kinh nghiệm cho ta.

Hiến pháp quy định Quốc hội có quyền quyết định trưng cầu, nhưng không quy định ai sẽ quyết định kết quả. Chính vì thế lần này luật phải quy định rõ điều này, trên cơ sở tham chiếu từ các nước.

- Vậy theo ông, phương án nào là hợp lý nhất?

- Nước ta thống nhất một Đảng, theo tinh thần Hiến pháp, mình tôn trọng tuyệt đối ý kiến của nhân dân, nếu đại đa số dân đồng tình thì theo dân, nhưng phải có quy định. Quốc hội phải ra nghị quyết để công nhận kết quả đó, để người thuộc về thiểu số cũng phải tuân theo. Tuy nhiên, không nên quy định 2 lần quá bán mà phải là 2/3. Tức là số lượng người đi bỏ phiếu phải là 2/3, kết quả cuối cùng vẫn phải 2/3, điều này sẽ thể hiện được ý kiến nguyện vọng của đại đa số người dân.

Hoàng Thuỳ/Vnexpress.net

Lượt xem: 629

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.