Xem lại vai trò của chính quyền địa phương khi tổng hợp dự toán ngân sách

Tiếp tục chương trình làm việc phiên họp thứ 3, chiều 13/9, tại Phòng họp Tân Trào- Nhà Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước nhằm thay thế Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 đã được ban hành trước đó.

Tiếp tục chương trình làm việc phiên họp thứ 3, chiều 13/9, tại Phòng họp Tân Trào- Nhà Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước nhằm thay thế Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 đã được ban hành trước đó. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều khiển phiên họp.

 

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Đình Nam  

Thay mặt Chính phủ trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, thực hiện Luật Ngân sách nhà nước ngày 16/12/2002, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 về Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước. Tiếp đó, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ngân sách nhà nước năm 2015 thay thế cho Luật ngân sách nhà nước năm 2002, với nhiều thay đổi quan trọng liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về NSNN, trình tự thời gian lập báo cáo, cũng như trách nhiệm và nội dung báo cáo của Chính phủ.

Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 là căn cứ pháp lý quy định nhiệm vụ của Chính phủ, Ủy ban Tài chính, ngân sách của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc xây dựng, thẩm tra, cho ý kiến các báo cáo về dự toán ngân sách nhà nước (NSNN), phương án phân bổ ngân sách trung ương (NSTW), phê chuẩn quyết toán NSNN do Chính phủ trình Quốc hội và một số nội dung khác liên quan đến NSNN thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, sau gần 14 năm, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đến nay, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 đã không còn phù hợp với thực tiễn, có những mẫu biểu được ban hành nhưng hiệu quả sử dụng thấp.

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật ngân sách nhà nước năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Ban hành Quy chế lập, thẩm tra, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước” và từ thực tiễn nêu trên, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nêu rõ, việc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết quy định về Quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia, dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN hàng năm thay thế cho Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 là cần thiết.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết gồm 5 chương và 20 Điều gồm: Chương I: Những quy định chung, gồm 3 điều (từ Điều 1 đến Điều 3); Chương II: Lập kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia, dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và quyết toán NSNN hàng năm,gồm 7 điều(từ Điều 4 đến Điều 10); Chương III: Thẩm tra các báo cáo do Chính phủ trình,gồm 3 điều (từ Điều 11 đến Điều 13); Chương IV: Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến, thông qua các báo do Chính phủ trình và việc hoàn thiện các báo cáo trình Quốc hội, gồm 5 điều (từ Điều 14 đến Điều 18); Chương V: Điều khoản thi hành gồm 2 điều (Điều 19, Điều 20). Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết còn có 60 mẫu biểu kèm theo.

 

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính- Ngân sách Nguyễn Đức Hải phát biểu tại phiên họp

Thay mặt Ủy ban Tài chính- Ngân sách trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Đức Hải nêu rõ, Ủy ban cơ bản nhất trí với đề nghị của Chính phủ về sự cần thiết sửa đổi Nghị quyết số 387/2003/UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về sửa đổi các quy định không còn phù hợp; khắc phục các hạn chế của Nghị quyết 387 hiện hành như về quy trình, thủ tục báo cáo, tài liệu trình kèm theo báo cáo, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, hệ thống mẫu biểu, thông tin tài chính- ngân sách… và bổ sung quy định mới để bảo đảm thống nhất với Luật NSNN năm 2015; đồng ý với kết cấu mới của dự thảo Nghị quyết sau khi được tiếp thu vì đã thể hiện rõ nội dung và hình thức văn bản hướng dẫn Luật.

Về phạm vi điều chỉnh, đa số ý kiến trong Ủy ban nhất trí với phạm vi điều chỉnh quy định tại Điều 1 của dự thảo Nghị quyết. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng để có tính bao quát hơn, phạm vi điều chỉnh của Dự thảo cần bao gồm cả việc Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc đánh giá tình hình thực hiện dự toán NSNN 6 tháng đầu năm, những giải pháp để thực hiện dự án NSNN 6 tháng cuối năm như quy định tại Điều 60 Luật NSNN năm 2015.

Về căn cứ để phân bổ ngân sách trung ương hàng năm, Ủy ban cho rằng, với tính chất là một văn bản hướng dẫn thi hành Luật NSNN và có giá trị pháp lý lâu dài, ổn định thì Nghị quyết cần quy định việc quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ là một trong những căn cứ để phân bổ NSTW. Tuy nhiên, do trước mắt chưa triển khai được rộng rãi phương thức này nên để quy định có tính khả thi, đề nghị Cơ quan soạn thảo thiết kế quy định theo hướng áp dụng phù hợp với tình hình thực tế và có lộ trình áp dụng ở các cơ quan có liên quan.

Về sự phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước trong việc lập, xây dựng các báo cáo do Chính phủ trình UBTVQH, Quốc hội, dự thảo cần thể hiện rõ hơn về quyền và trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước trong việc tham dự các cuộc họp có liên quan về tài chính ngân sách của Bộ Tài chính, Chính phủ; đề nghị quy định như sau: Bộ Tài chính thông báo lịch thảo luận với các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương về dự toán NSNN hàng năm với Ủy ban Tài chính- Ngân sách, Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan của Quốc hội để các cơ quan chủ động tham dự các cuộc họp nêu trên.

Về vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong việc phối hợp với Ủy ban Tài chính- Ngân sách, các cơ quan của Quốc hội để thẩm tra các báo cáo về tài chính ngân sách, đề nghị chỉ nên quy định Kiểm toán Nhà nước tham gia với Ủy ban Tài chính- Ngân sách trong việc thẩm tra các loại báo cáo trên.

Về nội dung thẩm tra, đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung các nội dung nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ NSNN, chế độ chi ngân sách quan trọng và các điều có liên quan đến việc cho ý kiến, xem xét, quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về tổ chức thẩm tra, cần quy định rõ trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban phải tổ chức họp, có ý kiến bằng văn bản gửi Ủy ban Tài chính- Ngân sách để tổng hợp, bảo đảm tiến độ theo quy định; đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung một khoản vào Điều 13 để quy định rõ trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc gửi tài liệu đến Ủy ban Tài chính- Ngân sách, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội để thẩm tra, quy định cụ thể về thời hạn Cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ tài liệu đến các cơ quan này. Báo cáo dự toán, phân bổ NSNN phải được Chính phủ gửi cho Ủy ban Tài chính- Ngân sách chậm nhất là ngày 15/9; báo cáo quyết toán NSNN gửi cho Kiểm toán nhà nước chậm nhất là ngày 10/4 hàng năm.

Về việc Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với các báo cáo do Chính phủ trình, Ủy ban đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể hơn như việc bổ sung các nội dung cụ thể mà Ủy ban thường vụ Quốc hội cần cho ý kiến, tương tự như Điều 14 của dự thảo Nghị quyết.

Về báo cáo do Kiểm toán Nhà nước trình, để bảo đảm chất lượng báo cáo và thời gian nghiên cứu, tham gia ý kiến của Kiểm toán Nhà nước, đề nghị Chính phủ xem xét thời gian gửi tài liệu về dự toán NSNN và phương án phân bổ NSTW cho Kiểm toán Nhà nước chậm nhất là 10/9 hàng năm.

Về các biểu mẫu, đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu để hệ thống bảng biểu phản ánh được tổng mức vay của NSNN, bao gồm vay bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc của NSNN theo quy định của Điều 5 Luật NSNN năm 2015…Đối với một số nội dung kỹ thuật, đề nghị giao cho các cơ quan hữu quan rà soát để chỉnh lý cho phù hợp.

Tại phiên họp, các thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cơ bản nhất trí với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính- Ngân sách đối với dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN; thống nhất về sự cần thiết ban hành dự thảo Nghị quyết.

Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển; Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc; Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định cũng đề nghị dự thảo Nghị quyết cần làm rõ, có sự đồng nhất với các quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, Luật đầu tư công, Luật tổ chức Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội…và một số văn bản pháp luật có liên quan khác.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga đề nghị xem xét, quy định cụ thể các hình thức thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, cơ quan chịu trách nhiệm gửi Báo cáo thẩm tra đối với việc quyết định dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW và phê chuẩn quyết toán NSNN.

Đề nghị xem lại dự toán ngân sách hàng năm, phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán hàng năm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh, kế hoạch tài chính 5 năm thì 5 năm làm một lần, đầu tư công trung hạn 5 năm làm một lần nhưng dự toán ngân sách hàng năm, phân bổ ngân sách trung ương hàng năm và quyết toán ngân sách thì chúng ta làm hàng năm. Do đó, phải xem lại vai trò của chính quyền địa phương khi tổng hợp dự toán ngân sách cả nước.

Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đề nghị cần bảo đảm việc ban hành Nghị quyết bao quát hết các tổ chức, cá nhân tham gia lập, quyết định dự toán NSNN; xác định được căn cứ, nội dung, thẩm quyền trong việc thẩm tra, quyết định, phân bổ, phê chuẩn quyết toán NSNN; đảm bảo tính cụ thể, khả thi trong các quy định của Nghị quyết; bổ sung nguyên tắc lập, thẩm tra, quyết định ngân sách địa phương, có thể quy định giao việc này cho Chính phủ để ban hành Nghị định hướng dẫn; bổ sung quy trình lập, thẩm tra đầu tư công trung hạn trong đó làm rõ trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Cơ quan soạn thảo, Ủy ban Tài chính- Ngân sách, Ủy ban Pháp luật và các cơ quan có liên quan tiếp thu đầy đủ các ý kiến phát biểu của đại biểu tại phiên họp này nhằm bổ sung, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp tục xem xét, cho ý kiến tại phiên họp tiếp theo.

Theo quochoi.vn

Lượt xem: 141

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.